2021-10-20 18:45:20

Jarosław Kaczyński: Mỹ thua Việt Nam vì đã cho phép các nhà báo đến các khu vực có chiến sự

Vào ngày 16/10/2021, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Krzysztof Ziemiec (trong chương trình của RMF FM), chủ tịch đảng Luật pháp và Công lý (PiS), Jarosław Kaczyński đã phản đối sự hiện diện của các nhà báo tại những nơi đã ban bố tình trạng khẩn cấp ở biên giới Ba Lan-Belarus. Trong phần giải thích, ông dẫn chứng thất bại của Mỹ ở Việt Nam là do đã „cho phép các nhà báo đến rất gần nơi giao tranh." Nhân dịp này, các nhà bình luận chính trị Ba Lan đã có những phản biện sau khi dẫn ra những ảnh hưởng của truyền thông trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam 1955-1975.

(Chủ tịch đảng Luật pháp và Công lý Jarosław Kaczyński)

Trước nhận xét của Krzysztof Ziemiec về việc hạn chế quyền tự do truyền thông khi không cho phép các nhà báo đến khu vực biên giới, chủ tịch Kaczyński (đồng thời cũng là phó thủ tướng, phụ trách An ninh quốc gia) trả lời rằng "giới hạn của mọi quyền tự do là những yếu tố xác định quyền tự do của người khác". Anh sẽ không cảm thấy tự do khi nghe những khẩu hiệu thô tục nhắm vào anh hoặc đảng của anh. "Đây không phải là kiểm duyệt. Nó chỉ đơn giản là áp dụng các quy tắc văn minh, không mang tính hoang đường". Ông giải thích thêm rằng, ông không thấy cần phải cho phóng viên có mặt trong khu vực có tình trạng khẩn cấp vì sẽ nẩy sinh "nhiều ác ý". "Bạn biết đấy, nếu Ba Lan ở trong tình trạng bình thường, nếu không có lực lượng đối lập như hiện nay, mà chỉ là những đảng đối lập bình thường. Nếu không có những giọng điệu suy thoái, thô tục đến mức khủng khiếp"…, (thì mọi việc chắc sẽ khác – ND).

Cũng trong cuộc phỏng vấn này, Chủ tịch PiS đã nói: "'Mỹ thua trong chiến tranh ở Việt Nam vì đã cho phép các nhà báo ở tiền tuyến. Ở Iraq và Afghanistan cũng vậy".

Cựu Thủ tướng Leszek Miller bình luận mỉa mai trên Twitter: "'Chiến tranh Việt Nam đã thất bại vì các nhà báo ở tiền tuyến. Ở Iraq và Afghanistan cũng vậy." Kaczyński đúng là một Tôn Tử của chúng ta.

Chiến tranh Việt Nam 1955-1975

Chiến tranh Việt Nam kéo dài từ năm 1955 đến năm 1975. Đây là cuộc xung đột vũ trang toàn cầu lớn nhất sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Đó là một cuộc đụng độ gián tiếp giữa các nước thuộc Khối phương Đông và các nước phương Tây do Hoa Kỳ đứng đầu. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (miền Bắc Việt Nam) được các nước xã hội chủ nghĩa hỗ trợ và Việt Nam Cộng hòa (miền Nam) được sự hỗ trợ của Mỹ và các nước đồng minh, đã chiến đấu với nhau.

Trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất năm 1948-1954, những người Việt Nam từ miền Bắc, với sự hỗ trợ của Liên Xô và Trung Quốc, đã chiến đấu để giải phóng đất nước khỏi tay thực dân Pháp. Nhưng sau đó, người Pháp đã thành lập một nhà nước Việt Nam thứ hai ở miền nam. Khi người Pháp từ từ rút lực lượng của họ vào đầu những năm 1960, người Mỹ bắt đầu tăng cường sự hiện diện của họ ở đó.

Giai đoạn đẫm máu nhất của cuộc chiến, với sự xuất hiện của hàng trăm nghìn quân Mỹ tại khu vực châu Á này, diễn ra vào những năm 1965-1970. Người Mỹ - mặc dù có lợi thế kỹ thuật to lớn và đã tiến hành hàng nghìn cuộc không kích, đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm nghìn người – vẫn thất bại trước quân Việt Cộng với chiến tranh du kích.

Bộ đội Bắc Việt, sau tám năm chiến đấu ác liệt, cuối năm 1973 - sau khi quân đội Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam - đã dần dần chinh phục các vùng sâu hơn ở miền nam đất nước, và đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, họ đã chiếm được thủ đô của miền Nam. Sài Gòn được đổi tên là Hồ Chí Minh - để vinh danh vị chỉ huy của miền Bắc cộng sản, người đã mất vào năm 1969.

Tại Việt Nam, theo các ước tính khác nhau, có khoảng 2,5 đến 3 triệu dân thường và binh lính từ cả hai phía, cũng như 58.220 lính Mỹ, đã chết.

Theo giáo sư Zbigniew Lewicki từ Đại học mang tên Hồng y Stefan Wyszyński, lý do chính dẫn đến tổn thất nặng nề của người Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam là do họ phải đối đầu với quân du kích bản địa. Người Mỹ tin chắc rằng sức mạnh quân sự khổng lồ của họ sẽ đủ sức đánh bại kẻ thù. Tuy nhiên, sức mạnh của những người du kích còn to lớn hơn.

Trong số những lý do khác dẫn đến thất bại của Mỹ, giáo sư đề cập đến sự miễn cưỡng sử dụng tất cả các nguồn lực quân sự sẵn có để không gây ra một cuộc đối đầu trực tiếp với Liên Xô hoặc Trung Quốc, cũng như hạn chế các hoạt động quân sự nhằm giảm thiểu số thương vong dân sự.

Giáo sư Lewicki giải thích rằng sự hiện diện của các nhà báo, đặc biệt là các phóng viên truyền hình, đã tác động đến việc định hình dư luận ở Hoa Kỳ về ý nghĩa và diễn biến của cuộc chiến tranh. Chỉ có điều là ông Kaczyński mô tả sự hiện diện này "hoàn toàn hời hợt". Thực ra, các phương tiện truyền thông chính thống của Hoa Kỳ từ đầu đã nhất quán ủng hộ sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Và điều này chỉ thay đổi sau khi có những thông tin được tiết lộ, phanh phui sự khác biệt giữa những gì các chỉ huy quân sự nói và những gì thực sự xảy ra ở Việt Nam. Trong bối cảnh này, có bài phát biểu nổi tiếng của nhà bình luận truyền hình Walter Cronkite. Ông ấy đã đến Việt Nam và ngạc nhiên vì những gì ông ấy thấy không giống như những gì Lầu Năm Góc nói. Những phát biểu này bắt đầu thay đổi thái độ của người Mỹ. Truyền thông đã giúp công chúng Mỹ biết được những thông tin sai lệch do Lầu Năm Góc cung cấp.

Tiến sĩ Piotr Osęka, nhà sử học, nhà nghiên cứu về lịch sử Ba Lan, giáo sư tại Viện Nghiên cứu Chính trị thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Ba Lan cho rằng, các phương tiện truyền thông đưa tin đúng về chiến tranh Việt Nam đã khiến người Mỹ chán ghét cuộc chiến này. Theo ông, chương trình truyền hình của Walter Cronkite nói về sự tàn khốc của Chiến tranh Việt Nam là đúng. Nhưng đó không phải là lý do chủ yếu khiến người Mỹ thua trong cuộc chiến này. Họ đã thua bởi vì họ không thể thắng. Họ đã hiểu sai con người Việt Nam. Họ luôn tin rằng lợi thế quân sự dựa trên công nghệ tiên tiến sẽ đảm bảo thành công của họ.

Về sự hỗ trợ trong nước, vào giữa những năm 1960, ở Mỹ đã có sự ủng hộ rộng rãi đối với sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Sau đó, nó dần dần mất đi khi quan tài của những người lính Quân đội Hoa Kỳ được đưa về nước. Và chính những chiếc quan tài không thể che giấu được này đã ngày càng làm đảo lộn cuộc chiến. Người Mỹ nói đó là một cuộc chiến vô nghĩa và không có hồi kết.

Theo Piotr Osęka, nếu không có các nhà báo tại những nơi có chiến sự thì cuộc chiến của người Mỹ cũng vẫn thất bại. Chỉ có điều là Người Mỹ sẽ phát hiện ra muộn hơn, sẽ bị sốc nhiều hơn và tai tiếng sẽ còn lớn hơn. Trong một nền dân chủ, thật khó để duy trì sự ủng hộ của công chúng đối với một cuộc chiến vô nghĩa.

Năm 2017, Arthur Waldron, nhà sử học người Mỹ, cộng tác viên của Đại học Pennsylvania, khi được hỏi về những sai lầm của người Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam, đã nói rằng quân đội mỹ thiếu thông tin tình báo về kẻ thù, và thậm chí những thông tin cơ bản về Việt Nam. Ông cũng đề cập đến một sự hiểu lầm về chiến lược đã làm thay đổi bản chất của cuộc chiến.

Câu chuyện về vai trò quan trọng của báo chí trong thất bại của Hoa Kỳ đã lan truyền trong giới thượng lưu Hoa Kỳ trong nhiều năm. Vào năm 2017, Kevin Boylan, một nhà sử học quân sự người Mỹ tại Đại học Wisconsin-Oshkosh, đã viết về nó trong một bài báo đăng trên The New York Times. Boylan nhớ lại công việc của mình tại Lầu Năm Góc vào đầu những năm 2000. Ông cho biết, vào thời điểm đó, các quan chức chính phủ, quân đội và truyền thông đã so sánh cuộc chiến ở Iraq với những kinh nghiệm trước đây ở Việt Nam. Đáng ngạc nhiên là nhiều người trong số họ tin rằng những kinh nghiệm ở Việt Nam mang lại hy vọng chiến thắng trong cuộc chiến mới này. “Họ cho rằng Hoa Kỳ đang trên đà thắng Việt Nam, nhưng đã bỏ lỡ cơ hội chiến thắng vì thái độ tiêu cực của báo chí và kết quả là thiếu bản lĩnh chính trị,”. Ông nói thêm rằng luận điểm "thắng thua" nói trên nảy sinh trong những người thân cận của Tổng thống Nixon và trở nên phổ biến trong những năm 1980 và 1990. Boylan viết trên tờ The New York Times: “Các nhà sử học chuyên nghiệp đều nhận định rằng Mỹ không thể giành chiến thắng trong chiến tranh Việt Nam”. Theo ông, cách tiếp cận dựa trên niềm tin cho thấy thất bại ở Việt Nam về cơ bản là do tâm lý. “Vì vậy, chiến thắng sẽ có thể đạt được chỉ khi các chính trị gia của Mỹ duy trì được sự ủng hộ của dân chúng đối với cuộc chiến”.

Tại sao Jarosław Kaczyński, khi được hỏi về tình hình ở biên giới Ba Lan-Belarus, lại đề cập đến vai trò của các nhà báo trong cuộc xung đột Việt Nam?

Piotr Osęka: Đôi khi rất khó để đánh giá những liên hệ này. Tôi hiểu ý của ông ấy là nếu các nhà báo có mặt và đưa các hoạt động của lực lượng biên phòng Ba Lan lên truyền hình thì sẽ dẫn đến sự phẫn nộ của công chúng trên mạng xã hội, làm xói mòn lòng tin đối với PiS. Nếu ví von điều này theo nghĩa đen thì thật là xấu hổ. Nó có nghĩa là những điều khủng khiếp đang xảy ra ở đó. Tuy nhiên, nếu không có hành vi vi phạm pháp luật ở biên giới thì không có lý do gì các nhà báo lại không được đến gần biên giới.

Giáo sư Lewicki: Tôi không muốn suy đoán tại sao Kaczyński lại nhắc đến Việt Nam. Không có cơ sở nào để so sánh. Việc sử dụng phép so sánh với Chiến tranh Việt Nam là một "luận điểm phô trương" vì xung đột Việt Nam không liên quan gì đến những gì chính quyền Ba Lan đang giải quyết ở biên giới Ba Lan-Belarus. Thực tế không có điểm tương đồng nào ở đây. Đó là một tình huống khác. Rốt cuộc, không có cuộc chiến nào liên quan đến một đảng phái. Có lẽ ông ấy nên tìm kiếm một sự tương đồng nhiều hơn nếu so sánh với tình hình ở biên giới giữa Hoa Kỳ với Mexico.

Tác giả: Krzysztof Jabłonowski

Xuân Nguyên (lược dịch)

(Nguồn: https://konkret24.tvn24.pl/polityka,112/kaczynski-o-wojnie-w-wietnamie-zostala-przegrana-bo-na-pierwszej-linii-byli-dziennikarze-a-jak-bylo-naprawde,1081493.html)

Sửa lần cuối 2021-10-20 18:45:20

Bình luận

Bình luận qua Facebook