Trong sách sử có rất các giai thoại về những tấm gương hiếu học, nỗ lực hết mình để vươn lên trên con đường học vấn bất chấp hoàn cảnh khó khăn, địa vị xã hội thấp kém. Hai trong số nhiều nhân vật như vậy là Nguyễn Toàn An và Bùi Xương Trạch.
Nguyễn Toàn An và Bùi Xương Trạch đều xuất thân từ người lính trong quân đội nhà Lê nhưng bằng tài học và sự cố gắng của bản thân đã đỗ đạt, thành danh qua con đường thi cử, trở thành những vị tiến sĩ đức cao, học rộng, có đóng góp nhất định vào sự phát triển văn hóa, trị quốc an dân một thời. Điều thú vị là giữa hai người có một số điểm trùng hợp: xuất thân đều là lính, đều “đổi đời” nhờ một bài thơ, bài thơ đó cùng viết về một chủ đề, cùng được phát hiện bởi vua Lê Thánh Tông, đều đỗ và làm quan dưới triều vị hoàng đế anh minh này
Anh lính hầu làm được thơ hay
![]() |
Các vị trạng nguyên thời xưa. Ảnh tư liệu minh họa.
|
Vào một đêm Trung thu trăng mờ, hoàng đế Lê Thánh Tông cùng các đại thần mở tiệc rượu để vua tôi cùng nhau xướng họa văn chương, đàm đạo thơ phú. Nhân cảnh đêm rằm mây đen che phủ, nhà vua bèn đặt cuộc thi thơ với đầu đề là: Đêm Trung thu không trăng. Thế là cả vua lẫn các quan đều trải giấy, cầm bút suy nghĩ để tìm ý thơ hay nhất. Thấy mọi người chăm chú làm bài, một người lính hầu trẻ tuổi đã đánh bạo qùy xuống xin được làm mấy câu thơ về chủ đề này.
Các đại thần có mặt trong cuộc thi đều biểu lộ sự ngạc nhiên, vua Lê Thánh Tông cũng bất ngờ trước tình huống này, nhưng ông vẫn truyền mang giấy bút đưa cho người lính để đua tài cùng các đại thần làm cho cuộc thi thơ thêm phần thú vị.
Khi thời hạn nộp bài đã hết, các thành viên tham gia cuộc thi thơ cùng người lính hầu kia cũng hoàn thành xong phần thi của mình. Lúc dâng lên, vua Lê Thánh Tông cầm lấy bài thơ của người lính xem trước tiên, mọi người có mặt khi đó đều hồi hộp quan sát thái độ của nhà vua. Tuy chỉ là bài thơ của một lính hầu viết trên giấy xấu, nhưng vua Lê Thánh Tông rất trân trọng đọc kỹ từng câu, từng chữ rồi với vẻ mặt hài lòng, ngài phán rằng: “Vui thay đất nước thái bình, việc học được chú trọng nên đến anh lính hầu cũng làm được thơ hay. Người đâu, hãy đọc to bài thơ này lên để tất cả cùng nghe!”.
Một viên quan có giọng tốt được chọn để đọc to bài thơ cho tất cả mọi người cùng nghe. Bài thơ có hai câu kết rất hay: “Trăng nay chớ có xem thường/Thu sau trăng sáng như gương giữa trời”.
Bấy giờ các vị văn thần đều kinh ngạc thực sự, không ai còn có thái độ coi thường. Vua Lê Thánh Tông truyền hỏi thì được biết người lính đó tên là Nguyễn Toàn An, quê ở huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, thừa tuyên Hải Dương (nay là thôn Tuyển Cử, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Tuy gia cảnh nghèo khó nhưng vẫn chăm chỉ đèn sách.
Vua rất khen ngợi bèn cho người lính đó về quê học tập thêm nhưng vẫn được hưởng lương lính, ngoài ra vua còn cấp cho một ít tiền làm lộ phí đi đường. Nguyễn Toàn An vui mừng tạ ơn rồi trở về quê dốc chí học hành. Không lâu sau, trong khoa thi năm Nhâm Thìn (1472), Nguyễn Toàn An xếp ở vị trí thứ 2, đoạt học vị Bảng nhãn, khi đó ông mới 22 tuổi. Thế là đất nước lại có thêm một nhân tài và người phát hiện là vị vua anh minh nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử Việt Nam.
Theo ghi chép của lịch sử và giai thoại dân gian, Nguyễn Toàn An còn có tên khác là Nguyễn An, Nguyễn Kim An. Sau khi đỗ đạt, ông làm quan trải nhiều chức vụ, sau được thăng lên đến chức Hàn lâm viện thị thư.
Có câu chuyện về việc vua Lê Thánh Tông bãi bỏ một luật lệnh do có liên hệ đến hoàn cảnh khá buồn của Nguyễn Toàn An. Trong sách Hải Dương phong vật chí của Trần Đạm Trai có ghi: “Cổ thời trọng đạo hiếu đến nỗi luật pháp cấm vợ có thai trong khi tang chế, đến thời Lê Thánh Tông mới bỏ lệ ấy, nhân vì có người tỉnh Hải Dương, huyện Đường An, xã Thời Cử tên là Nguyễn Kim An, thuở nhỏ hàn vi, thời Hồng Đức (1470-1497) làm lính chầu trong cung. Vua thấy có tài cho về đi học, 22 tuổi đỗ Hương cống, rồi thi hội thi đình đỗ Bảng nhãn. Được bổ làm quan ít lâu, về cư tang, giữ trọn ba năm đạo hiếu thì mất, không có con trai, vua cảm thương, từ đó bỏ lệ kia”.
Từ lính cắt cỏ đến vị quan mang tước Quảng Văn hầu
Ở làng Giáp Nhị, huyện Thanh Trì, trấn Sơn Nam (nay thuộc xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội) đến nay còn lưu truyền câu chuyện về sự thành đạt của Tiến sĩ Bùi Xương Trạch (1451 - 1529); điều ly kỳ, hấp dẫn là câu chuyện đó có nhiều điểm giống với câu chuyện về Nguyễn Toàn An.
Bùi Xương Trạch từ nhỏ đã ham học sách, làm thơ cho dù gia cảnh nghèo khó. Theo lệ tuyển binh của triều đình nên Bùi Xương Trạch cũng phải đăng lính và được xung vào đội lính cắt cỏ gánh lên Thăng Long để nuôi ngựa trong cung điện. Một lần ông lên kinh, đúng vào đêm rằm tháng tám, đêm đó vua Lê Thánh Tông cùng một số quan đại thần bình thơ xướng họa thì trăng mờ vì có hiện tượng nguyệt thực; nhân cảnh này vua lấy đó làm đề truyền cho các quan làm thơ vịnh.
Khi biết về chuyện bình thơ, anh lính cắt cỏ cũng làm ngay một bài thơ chữ Nôm dâng lên. Vua Lê Thánh Tông, vị hoàng đế hiếu học và trọng nhân tài cũng không nề hà, phân biệt gì liền mở ra đọc ngay. Bài thơ viết:
Lượt là vằng vặc rạng tơ hào
Phải mịt mù nay vị cớ bao
Nhân bởi hắc vân ngất phủ
Há rằng thỏ ngọc hay lao
Hằng Nga lấy đấy làm rông vát
Thục đế từ nay kẻo ước ao
Mực rằng đêm nay chẳng thấy nguyệt
Thu qua đông đến quế càng cao.
Bài thơ tuy ngắn mà tả trọn cảnh đêm rằm tháng 8 có nguyệt thực lại gắn với một số tích truyện huyền thoại và đặc biệt ở câu kết nói lên sự lạc quan, tin tưởng chuyện không hay chỉ nhất thời, rồi những điều tốt đẹp vẫn đang ở phía trước, cố gắng vươn lên sẽ như “người bẻ quế” với ý đỗ đạt, thành công.
Vua Lê Thánh Tông đọc xong rất hài lòng bèn cho triệu vào ban khen ngợi, hỏi họ tên quê quán và truyền cho Bùi Xương Trạch được miễn mọi lao dịch, binh lực để về quê dành nhiều thời gian hơn cho việc học hành.
Nếu như thời điểm diễn ra câu chuyện của Nguyễn Toàn An không được ghi lại cụ thể thì trường hợp của Bùi Xương Trạch cũng vậy, chỉ khác ở chỗ là sau này cháu 7 đời của ông là Bùi Huy Bích có đoán rằng theo quốc sử thì năm Hồng Đức thứ 7 (tức năm Bính Thân- 1476) vào đầu canh năm ngày 16 tháng 8 âm lịch có nguyệt thực toàn phần “chắc việc làm thơ vào năm đó”.
Sau khi được về quê, Bùi Xương Trạch càng chuyên chú đèn sách, đến khoa thi Mậu Tuất (1478) ông đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ, năm đó Bùi Xương Trạch vừa tròn 28 tuổi.
Cuộc đời ông được hưởng phúc lâu hơn nhiều so với Nguyễn Toàn An. Từ khi đỗ đạt, Bùi Xương Trạch làm quan trải nhiều chức vụ, ban đầu làm việc ở Hàn lâm viện rồi dần thăng lên Đông các hiệu thư, Đông các học sĩ, Thiên đô ngự sử, Thượng thư bộ Binh, Chưởng lục bộ, Đô ngự sử, Tri kinh diên sự, Tế tửu Quốc Tử Giám. Tổng cộng ông làm quan dưới triều 6 đời vua: Lê Thánh Tông (1460-1497), Lê Hiến Tông (1497-1504), Lê Túc Tông (1504), Lê Uy Mục (1505 - 1509), Lê Tương Dực (1510 - 1516) và Lê Chiêu Tông (1516-1522).
Đến năm Canh Thìn (1520) đời Lê Chiêu Tông, thấy triều chính suy vong, bản thân tuổi đã cao nên Bùi Xương Trạch lấy cớ đau mắt xin về trí sĩ. Ông sống ở quê nhà đến đầu tháng 11 năm Kỷ Sửu (1529) thì mất, thọ 79 tuổi. Triều đình truy tặng hàm Thái phó, tước Quảng quận công và ban tên thụy là Văn Lượng.
Điều đáng nhớ nhất trong cuộc đời Bùi Xương Trạch là câu chuyện về tước hiệu của ông. Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, vào tháng 10 năm Tân Hợi (1491) đời Lê Thánh Tông, “vua sai thợ làm cái đình ở ngoài cửa Đại Hưng để làm nơi treo các pháp lệnh trị dân. Làm xong ban tên là Quảng Văn đình. Ngôi đình ấy ở trong Long thành, trước Phượng Lâu, có ngòi Ngân Câu vòng quanh hai bên”. Sau đó vua sai Bùi Xương Trạch soạn bài văn bia cho ngôi đình này gọi là Quảng Văn đình ký ghi lại việc xây dựng và nói lên ý nghĩa của công trình này.
Bài ký viết xong được trình lên vua Lê Thánh Tông ngự duyệt, đọc xong hoàng đế đặc biệt khen thưởng liền lấy luôn tên của ngôi đình làm hiệu ban cho Bùi Xương Trạch tước Quảng Văn hầu.

Gửi bình luận
Nhập tên và email để bình luận. Chúng tôi sẽ gửi link xác nhận tới email của bạn. Bình luận chỉ hiển thị sau khi bạn bấm link xác nhận.