Làm quan để phụng sự đất nước và nhân dân
Ra làm quan, nhưng Doãn Khuê không vì vinh thân phì gia, mà canh cánh một đời vì dân, nước. Có lẽ chính vì thế mà hoạn lộ của ông không “xuôi chèo mát mái”. Mấy lần từ quan, vài bận cách lưu, giáng chức, cao hơn là miễn chức... nhưng rồi cuối cùng, triều đình dưới đời Tự Đức cũng đã ban phong thẻ bài khắc quý tự Hiếu Nghĩa cho ông.
![]() |
| Lăng mộ tiến sĩ Doãn Khê ở Nghĩa Hưng, Nam Định. |
Doãn Khê dốc lòng lo phận sự, thực thi hoài bão trí quân trách dân, theo đạo cương thường, vừa trăn trở với việc hành tàng xuất xử. Cả cuộc đời ông chuyên lo hành xử với việc đánh Pháp, đào tạo nhân tài, thau chua rửa mặn, cải tạo đồng đất ven biển khi làm Doanh điền sứ...
Nếu tính về hàm quan lại để so sánh thì có lẽ Doãn Khuê là người được cả triều đình và dân chúng tôn vinh, thờ phụng nhiều. Nam Định và Thái Bình với Doãn Khuê như là hai quê hương chính thức. Quê cha, hay nơi sinh thành, cũng đều thuộc vùng Sơn Nam Hạ một thủa.
Bốn chục năm làm quan, ông đã trải gần trọn bốn triều vua nhà Nguyễn, chứng kiến cái thời đau thương mất nước và trực tiếp tham gia vào sự nghiệp vệ quốc gian khổ hy sinh. Cả một đời ông trăn trở lo toan và hành động cứu nước, ông đã để lại tấm gương sáng về lòng yêu nước, thương dân, chăm lo cho tiền đồ dân tộc.
Nơi Doãn Khuê khẩn hoang mở ấp bây giờ có làng Thư Điền thuộc xã Nghĩa Thành, huyện Nghĩa Hưng, Nam Định. Đền thờ ông được đặt giữa ruộng đồng tươi tốt như sự trả nghĩa với người mở đất năm nào. Ngôi đền khá bề thế chứng tỏ tấm lòng hậu thế ngưỡng vọng tiền nhân. Hàng năm, đến ngày mất của ông, dân làng mở hội dâng hương, tổ chức đám rước trang trọng... Đôi câu đối đặt ở nghi môn đủ để khái quát công đức người xưa: “Đánh Pháp trừ gian, yêu nước trung tâm ngời sử sách/ Dựng điền lập ấp, thương dân nghĩa khí sáng làng thôn”. Ngôi đền thờ ông thành di tích được Nhà nước cấp bằng xếp hạng năm 1994 là bằng chứng ghi nhận công đức danh nhân.
Không hiểu tấm lòng trung trinh ấy lớn đến nhường nào mà quốc sử không ít lần nhắc đến ông với tư cách là người đa năng, có nhân cách, bản lĩnh và một nhà sư phạm có công canh tân đất nước, một quan văn mà đau đáu việc quốc gia hữu sự…
Chuyện kể rằng, khi quốc sự lâm nguy đến nỗi xung trận, cùng các học trò và con trai mình là Doãn Giác, Doãn Khê lập đội nghĩa quân đánh giặc. Khi những văn thân cùng con trai tử trận, vị quan này đã viết những dòng thống thiết trong Văn tế trận vong: “Than ôi! Người ta ai mà không chết/Là bề tôi chết trung, là phận con chết hiếu/Cái chết trung nghĩa của anh em, linh hồn của anh em tự nó không mất mà còn sống mãi/Nghĩa thầy trò, tình cha con sướng khổ có nhau mà nay ly biệt!/Tình cảm ấy còn vương vấn mãi...”.
Ông tâm niệm, người quân tử lập thân trong trời đất một ngày còn sống là một ngày coi cương thường là hệ trọng.
Tấm gương sáng về nhân cách
Nhà giáo Doãn Khuê có nhiều học trò. Trong số đó có những người thành danh như Hoàng giáp Nguyễn Quang Bích, nhà thơ và là thủ lĩnh phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ 19; Giám sát Ngự sử Phạm Huy Quang, thủ lĩnh chống thực dân Pháp tiêu biểu ở đất Thái Bình…
Trong đời mình, ông có những thời kỳ làm thầy giáo, đốc học tại Nam Định, Sơn Tây, Doãn Khuê luôn được đánh giá là một người thầy mẫu mực về nhân cách, tấm gương sáng để học trò các thế hệ noi theo.
Cuối đời, ông cáo quan về quê dạy học nhưng vẫn chưa nguôi nỗi đau mất nước khi triều đình Huế nhu nhược, nhượng bộ quân Pháp. Ông từng soạn hịch kêu gọi sĩ phu và dân chúng cả nước đứng lên đánh đuổi quân Tây Dương (giặc Pháp).
Các tác phẩm thơ văn Doãn Khuê thất lạc nhiều nhưng những gì còn lại thể hiện lẽ sống, bản lĩnh, cốt cách của một nhà nho yêu nước đến tận cùng.
Lịch sử vốn công bằng, ghi danh và tôn vinh công trạng người con đất Sơn Nam Hạ xưa, xứng đáng với tầm vóc và đóng góp của ông. Hiếm có một ông quan nào được triều đình mến tài trọng đức như vậy. Bốn mươi năm ở chốn quan trường, Doãn Khuê đã nhiều lần xin cáo quan về trí sĩ, dẫu nhiều lần không thành nhưng điều ấy đã đủ để thấy được đức độ của người có tự trọng, có bản lĩnh, khí tiết và tài năng... Nguyễn Lệ Trạch, học trò ông, sau này khi đánh giá về người thầy học của mình, đã viết: “Doãn Khuê là một sĩ phu lập đức, lập công và lập ngôn trọn vẹn”. Võ công văn nghiệp của Doãn Khuê cùng đức hạnh vị quan thanh liêm đã để lại tiếng thơm muôn đời: “Mai cốt bất mai danh”.
Kỷ niệm 195 năm ngày sinh và 130 năm ngày mất của Doãn Khuê, đúng lúc Thái Bình vừa làm lễ mừng Tiền Hải 180 năm lập huyện, người Thái Bình và Nam Định tự hào quê hương mình có một danh nhân không tì vết về nhân cách và phẩm hạnh. Đây cũng là ông quan được thờ ở mấy tỉnh và lưu danh tiến sĩ ở Văn miếu Huế...
