Những ngày trời trong, đứng ở cửa biển Sa Kỳ nhìn về hướng đông thấy chập chờn giữa sóng nước là huyện đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi). Mùa biển lặng, từ cửa biển Sa Kỳ đi tàu cao tốc chỉ mất khoảng 45 phút là đến đảo.
Hòn đảo nơi đầu sóng ngọn gió này đang mang trong mình cả nghìn năm văn hóa - lịch sử của dân tộc Việt. Bao nhiêu năm qua, bà con Lý Sơn là những người thấu hiểu nhiều nhất nhịp đập của Tổ quốc ở nơi xa đất liền.
Chinh phục biển khơi
Trong câu chuyện kể về vùng đất nằm giữa biển khơi quanh năm đối chọi với sóng to gió lớn này, những già làng ở các xã vùng cao Trà Bồng vẫn kể với con cháu rằng đảo Lý Sơn là một phần của vùng núi Trà Bồng trôi dạt về phía biển Đông sau trận giao tranh dữ dội của thần Nước và người anh hùng Doang Đác Tố, chủ làng Tali Talok.
Cù lao Ré
Theo Quốc sử quán triều Nguyễn, đảo Lý Sơn còn gọi là cù lao Ré. Bởi theo các bậc cao niên, trước đây trên đảo mọc rất nhiều cây ré, lá giống lá nghệ, thân mềm và phát triển rất nhanh. Vỏ cây ré dùng để buộc đồ bền hơn bất cứ loại dây nào khác và đây là một loại hàng hóa được cư dân trên đảo dùng để trao đổi, mua bán với các thương thuyền trên biển.
Sách Đại Nam nhất thống chí soạn vào đời Tự Đức, phần tỉnh Quảng Ngãi có ghi: “Cù lao Ré ở giữa biển, cách huyện Bình Sơn 65 dặm về hướng đông, xung quanh núi cao, ở giữa trũng xuống ước mấy chục mẫu, nhân dân hai phường Vĩnh An và An Hải ở tại đây.
Phía đông bắc có động, trên động có chùa mấy gian, có giếng đá, bên hữu động có giếng nước trong veo, chung quanh cây cối xanh tươi, khi có giặc biển thì dân phường ẩn núp ở đấy...”. Nhà nghiên cứu văn hóa địa phương Phạm Trung Việt trong Non nước xứ Quảng cho rằng người Việt khai khẩn hòn đảo này từ triều vua Lê Kính Tông (1600-1619), song nếu chiếu theo gia phả của các dòng họ trên đảo còn đang lưu giữ, thời điểm di dân đến hòn đảo này có thể vào thời nhà Hồ.
Theo các nhà địa chất, hòn đảo xinh đẹp này được hình thành cách đây vài triệu năm, do hoạt động phun trào nham thạch của các núi lửa phủ lên nền những nếp gấp tạo sơn đã bắt đầu nâng những lớp đá trầm tích nhô khỏi mặt nước biển.
Chính các lớp trầm tích nền đảo và san hô phát triển trên bề mặt là cơ sở cho việc hình thành nhiều hang động, cổng đá do tác động xâm thực của nước biển trong thời kỳ biển tiến ở khu vực hòn Thới Lới, nơi vận động tạo sơn theo kiểu xếp nếp đã đẩy các lớp trầm tích đáy biển nhô cao hơn cả trong hệ thống đảo Lý Sơn. Còn vết tích núi lửa là những khối nham thạch nhiều hình dạng chưa kịp phân hủy, cũng như lớp đất đỏ bazan màu mỡ phủ hầu hết khắp đảo, tạo điều kiện cho sự đa dạng và tươi tốt của hệ thực vật che phủ.
Dưới triều Nguyễn, đơn vị hành chính ở hòn đảo này bao gồm phường An Vĩnh và An Hải thuộc huyện Bình Sơn. Tại Âm Linh tự - nơi thờ âm hồn, phối thờ sáu vị tiền hiền làng An Vĩnh là Phạm Văn, Phạm Quang, Võ Văn, Lê, Nguyễn, Võ Xuân. Từ đó theo đường liên xã vào hướng nam chừng 3km đến đình làng An Hải có một ngôi nhà thờ bảy vị tiền hiền xã An Hải gồm họ Nguyễn, Dương, Trương, Trần, Võ, Nguyễn Đình, Nguyễn Văn.
Đó là những vị tiền nhân đã có công lập làng, giữ đảo và làm nên một vùng đất đầy huyền thoại. Nhưng không chỉ có vậy, theo gia phả các dòng họ với hơn hai vạn dân hiện đang sinh sống trên đảo cho thấy còn có những dòng họ khác từ Quảng Nam, Nghệ An, Thanh Hóa đi theo đường biển vào Lý Sơn.
| Toàn cảnh huyện đảo Lý Sơn. Nhìn từ ngoài khơi, đảo Lý Sơn như một con rùa khổng lồ thong thả dạo chơi trên biển - Ảnh: Minh Thu |
Đảo tiền tiêu
Để có được cuộc sống như bây giờ, cư dân đất đảo Lý Sơn chẳng hề quên cuộc hành trình của cha ông từ đất liền ra đảo cách đây non nửa thiên niên kỷ. Ông Võ Hiển Đạt - ở thôn Đông, xã An Vĩnh, người được bà con gọi là “ông đồ cuối cùng của đảo” - nói: “Sở dĩ người đất liền ra khai khẩn hòn đảo này trước tiên là để góp phần bảo vệ chủ quyền vùng biển trời của Tổ quốc, thứ đến nơi đây vốn là vùng đất nham thạch phun ra từ miệng núi lửa nên đất đai tốt tươi và biển khơi có nhiều cá tôm”.
Bà Nguyễn Thị Hồ, 73 tuổi, ở thôn Đông, xã An Hải, kể rằng thời bà còn trẻ hằng năm cứ đến tháng 10 từ ngoài biển cá trích bơi vào bờ trắng cả một vùng. Dọc bến Đình, bến Ngoài, Lỗ Bùn và vùng ven đảo Bé, bà con ngư dân mang vợt ra hớt bán. Có cá trích làng thịnh lắm.
| Âm Linh tự - đền thờ những tiền nhân lập làng, giữ đảo Lý Sơn - Ảnh: Võ Quý Vầu |
Đảo nằm giữa biển khơi muôn trùng sóng vỗ, ngày đẹp trời dõi mắt có thể nhìn thấy đất liền, nhưng mùa biển động có khi đảo bị cô lập cả tháng liền. Vì vậy, sống trên hòn đảo tiền tiêu giữa biển Đông này đòi hỏi người dân nơi đây phải nỗ lực rất lớn. Để có đất sản xuất, nhiều thế hệ cư dân đảo đã bỏ rất nhiều công sức để khẩn hoang.
Nếu ở đảo Lớn phải đối mặt với sóng gió thì ở đảo Bé (tức xã đảo An Bình) việc mưu sinh càng khó hơn nhiều do không hề có mạch nước ngọt và mùa mưa bão tàu thuyền khó cập bờ. Bây giờ ở hòn đảo này có gần 100 hộ dân sinh sống. Mặc dù thiên nhiên khắc nghiệt, nước uống phải dè sẻn từng ca, nhưng những cư dân đảo Bé vẫn tìm mọi cách để tồn tại trên hòn đảo khô khốc này.
Sống ở trên đảo người dân không chỉ đối mặt với biển khơi, bão tố mà còn phải chống chọi với kẻ cướp, kẻ thù xâm lược. Người dân nơi đây vẫn thường lưu truyền ngợi ca ông Nguyễn Văn Tuất, người mưu trí và có sức mạnh vô song đã vận động nhân dân trên đảo chống quân Tàu Ô hồi nửa đầu thế kỷ 19. Ông đã bày cho dân cách làm nhà đắp đất có hai lớp cửa hoặc mang thóc gạo lên núi để giặc khỏi cướp. Trong một trận đánh, do vấp phải hang con còng biển nên ông ngã xuống và bị giặc giết.
Tuy vậy, với đức độ và tài năng của mình, ông Tuất đã hiển thánh. Dân đảo còn lưu truyền câu chuyện kể về nàng Roi người làng An Vĩnh xinh đẹp nết na. Năm nàng 15 tuổi, khi quân Tàu Ô đến cướp phá đảo, nàng vội chạy báo tin cho cha mình. Chẳng may nàng bị phát hiện nên đã cố sức chạy đến vũng Thầy Tu rồi trầm mình xuống vũng trong tư thế xếp bằng như Phật Bà Quan Âm. Sau khi nàng mất, dân làng tiếc thương dựng miếu thờ ở Hòn Tây, xã An Vĩnh có tên gọi là Trinh Tịnh đường.
KIM EM - VÕ QUÝ CẦU (Tuổi trẻ)
| Tên gọi đảo Lý Sơn được hình thành từ triều Nguyễn, còn thời nhà Lê gọi nơi đây là Du Trường Sơn. Trước tháng 1-1993, huyện đảo Lý Sơn gồm hai xã Bình Vĩnh và Bình Hải, đến tháng 1-1993 thành lập huyện đảo Lý Sơn thì hai xã này trở về với tên gọi cũ là An Vĩnh và An Hải. Sau đó, đảo Bé thuộc xã An Vĩnh được tách ra thành xã An Bình. Đến nay, huyện đảo Lý Sơn có diện tích 9,9km2, dân số trên 20.500 nhân khẩu. |
_____________________
Đảo nhỏ, ít dân, kham khổ, nhưng từ xa xưa trai tráng của đảo đã vượt sóng ra coi ngó Hoàng Sa theo lệnh vua. Bao năm đã qua, Lý Sơn vẫn nhớ mãi những người ra đi ấy bằng lễ khao lề thế lính, bằng những hình nhân và những ngôi mộ gió.