Để đến được bản tít xa này phải mất gần hai tiếng đồng hồ đi xe máy chỉ với quãng đường 25km. Có nhiều đoạn tôi phải phụ giúp cô bạn dẫn đường người Thái đẩy chiếc xe Wave cũ qua những con dốc đầy bùn đất và đá hộc. Cô bạn phân trần rằng, vào với bản Khe Bu xa vậy đó. Đây là nơi xa xôi vào loại bậc nhất của cả huyện Con Cuông, Nghệ An.

Tộc người từng bị kỳ thị nhiều nhất ở Nghệ An
Dân bản Khe Bu hầu hết là tộc người Đan Lai. Theo trưởng bản Lê Đức Cảnh thì hiện trong bản có 140 hộ với 720 nhân khẩu. Bản cách trung tâm xã Châu Khê 25km và nếu đi từ huyện lỵ Con Cuông phải mất gần bốn chục cây số mới tới nơi. Để vào được đến bản, ngoài những con dốc đá, người ta còn phải vượt qua một bến đò với con suối rộng chừng trăm mét. “Con đò” chở khách là một bè nứa được gắn vào hai sợi dây thừng buộc một con chạy trượt theo dây cáp nối vào vách núi phía hai bên bờ suối.
Mỗi khi có người qua đò, một cô gái tên Thương lại chống chiếc bè nứa chở khách vượt suối. Mùa khô cũng như mùa lũ, mỗi ngày bình quân có ba bốn chục lượt khách qua đò. “Hành khách” thường xuyên nhất của chị Thương là dân trong bản Kiên Na, bản Khe Bu và bản Khe Nóng. Ngoài ra còn có các chiến sĩ đồn biên phòng 553 và cán bộ một trạm kiểm lâm và lâm trường huyện.
Từ ba năm nay, người dân bản Khe Bu vẫn phải đi qua con suối không an toàn này, nhất là các em nhỏ phải ra trung tâm xã học cấp hai, mỗi tuần hai lần. Đầu tuần các em gùi gạo ra trường, cuối tuần lại về lấy gạo. Phương tiện chủ yếu của bọn trẻ chỉ có đôi chân đã chai sạn và một thể lực đủ để vượt năm chục cây số mỗi tuần. Ở bản Khe Bu chỉ có cô bé La Thị Na là học sinh cấp ba duy nhất. Năm nay cô bé vào lớp 11 trường nội trú tỉnh, ngoài ra còn thầy giáo già La Văn Bốn, người Đan Lai duy nhất có vinh dự được “Cụ Hồ” cầm tay, ôm hôn thân mật.
Chúng tôi tìm được nhà trưởng bản Lê Đức Cảnh trên một ngọn đồi thấp. Anh mới ngoài 40 tuổi, là chủ gia đình có kinh tế khấm khá nhất trong bản với một quầy hàng nho nhỏ bán tạp hóa cho bà con trong thôn. Hồ hởi mời khách vào nhà, cả buổi chiều hôm ấy anh đi lùng bằng được loài cá mát ngon nổi tiếng, nghe nói chỉ có ở những con suối ở Châu Khê, Môn Sơn, Lục Dạ - huyện Con Cuông. Chuẩn bị xong món ngon đãi khách anh mới chịu vào việc. Anh dẫn chúng tôi đi từ đầu bản đến cuối bản để nắm một cách tổng quan về cái nơi mà chúng tôi lần đầu đặt chân tới.
Cũng vào buổi chiều tối hôm ấy, người trưởng bản ấy nhắc lại với chúng tôi câu chuyện buồn về gốc gác của tộc Đan Lai, về chiếc thuyền liền chèo từng được nhiều người nói tới. Người Đan Lai do nợ nần chồng chất nên bị quan làng đuổi ra khỏi chính quê hương của mình. Trước đây họ vốn ở hạ nguồn sông Giăng (một nhánh của sông Lam, bắt nguồn từ khu vực biên giới Việt - Lào) thuộc Thanh Chương, Nghệ An.
Người Đan Lai khi đến với miền đất mới của mình, nơi thượng nguồn sông Cả và một thời gian dài họ bị những người bản địa coi là tộc mọi rợ, không giao du. Tuy không có xung đột về vũ lực với người bản địa (chủ yếu là người Thái), nhưng trong thẳm sâu tâm thức, người Đan Lai vẫn mặc cảm về thân phận tha phương của mình. Mãi đến những năm 1980, giữa tộc Đan Lai và người Thái ở đây mới cho con cái họ được lấy nhau. Nhưng hiện giờ số cặp vợ chồng là người Thái và Đan Lai cũng chỉ mới đếm được trên đầu ngón tay, mặc dầu có đến 3.000 người Đan Lai sống rải rác ở nhiều xã trên huyện Con Cuông và người Thái chiếm đa phần số dân của huyện miền núi này (gần 76%).

Làng định cư nhưng dân vẫn “du cư”
Biết nhà trưởng bản có khách, đêm ấy, già trẻ, gái trai trong bản kéo đến rất đông. Ai cũng muốn mời khách đến chơi nhà mình, nhất là cánh đàn ông, con trai. Trong lúc vui chuyện, chúng tôi chọn nhà anh Vi Học. Anh này vốn có gốc gác là người Thái, nhưng đã sống ở bản Khe Bu từ nhỏ nên nghiễm nhiên thành người Đan Lai. Khó khăn lắm tôi mới đi lên được chiếc cầu thang được làm từ những khúc cây buộc dây lạt tạm bợ. Trong nhà tối om không đèn đóm. Cả bản chỉ có vài nhà có chiếc tua - bin nhỏ để phát điện dùng trong gia đình mà họ gọi là “điện cù”.
Mới đi được vài ba bước tôi đã bị một phen hú vía khi vô tình giẫm lên thanh tre lót làm sàn nhà mục gãy. Chỉ trong nháy máy tôi đã nằm sõng soài trên nền đất cùng với những thanh tre lót sàn nhà. Cũng may, gầm nhà thấp nên chỉ bị xước da nhẹ. Cú ngã đã làm kinh động đến giấc ngủ của đàn con 5 đứa của gia chủ. Đứa lớn là một bé gái 13 tuổi, đứa út còn ẵm trên tay. Chúng ngơ ngác nhìn nhau và không hiểu chuyện gì đang xảy ra.
Trong câu chuyện với chúng tôi, hai vợ chồng trẻ (cùng sinh năm 1971) này không giấu được vẻ xấu hổ khi cả năm đứa trẻ còn đang ôm nhau ngủ kia không có ai được ăn học. Chúng chưa từng một ngày tới lớp, mặc dầu cách đó chỉ mấy dãy nhà là một điểm trường tiểu học. Tất cả đều phải bước vào cuộc mưu sinh sớm hơn độ tuổi. Mới năm sáu tuổi chúng đã phải theo cha mẹ lên rừng kiếm củ, bẻ măng, không có thời gian nghĩ đến chuyện đi học. Điều này đã khiến các thầy cô giáo trên điểm trường lẻ Khe Bu rất day dứt.

Cô giáo Vi Thị Đào, người Thái đã gắn bó với bản Khe Bu 3 năm nay kể lại: Ở đây 3 năm, cô có không dưới vài chục lần đi vận động phụ huynh cho con em đến lớp. Nhiều người cũng muốn con cái học hành tử tế, nhưng cứ vào mùa măng tháng Tư đến tháng Tám, cuộc sống của họ chủ yếu trên rừng và thường phải cho con cái đi cùng vì không có người chăm sóc. Bọn nhỏ đã quen cuộc sống hoang dã nên dường như lớp học không phải môi trường chúng ưa thích.
Cô Đào cũng cho biết thêm: “Tôi cũng là người dân tộc nên phần nào hiểu họ. Có lẽ có được đất sản xuất thì cuộc sống họ sẽ phần nào khác đi. Nhưng địa bàn của thôn bản này chủ yếu vẫn là đồi núi rất khó canh tác”. Lối sống cũng như phong tục của tộc người Đan Lai hiện nay dường như phụ nữ vẫn là lao động chính trong gia đình.
Đàn ông phần lớn chỉ suốt ngày chè chén, vì vậy mà họ được biết đến với tên gọi tộc “người say”. Kinh tế trồng trọt, chăn nuôi còn khá mới lạ với tộc người này. Họ hầu như chỉ biết hái lượm. Họ đang cần đến cán bộ khuyến nông, khuyến lâm mà nói đúng hơn là cần đến kiến thức trồng trọt, chăn nuôi hơn là vốn hỗ trợ. Đồng vốn về với họ thường không được sử dụng hiệu quả, nhiều khi vốn vào tay các “đức ông chồng” chỉ một tháng sau, cả vài triệu đồng đã trôi vèo theo những cơn say.
Đó là những gì chúng tôi đã nghe được từ những câu chuyện phiếm của người dân nơi đây. Chính sách dân số đối với những nhóm tộc đặc biệt đã cho người Đan Lai một “đặc quyền” được sinh đẻ với số con không hạn chế. Những gia đình nghèo, khó khăn nhất ở những thôn bản này lại thường là những nhà đông con hơn cả.
Hữu Vi (thethaovanhoa)