Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Việt Nam quê chồng tôi

19/10/2009 19 phút đọc Maria Nguyễn
Sau gần 30 năm lấy chồng Việt, lần đầu tiên tôi háo hức theo anh về quê anh nhân dịp năm mới Tết cổ truyền. Theo
Việt Nam quê chồng tôi

Sau gần 30 năm lấy chồng Việt, lần đầu tiên tôi háo hức theo anh về quê anh nhân dịp năm mới Tết cổ truyền. Theo lịch cổ truyền Đông phương, năm nay là năm „con trâu”. Một tháng về quê chồng đối với tôi có thể coi là cuộc du ngoạn ấn tượng nhất của cuộc đời.

Nhà tôi ở quê
Nhà tôi ở quê

Điều thú vị đầu tiên tôi nhìn thấy là tháng 2 ở Ba Lan vẫn còn đầy tuyết, chẳng cây cối gì mọc được thì ở Việt Nam khí hậu ấm áp, ra khỏi sân bay thấy những hàng cọ xanh mướt, cây cỏ tốt tươi,. Hà Nội náo nhiệt, người đông nhộn nhịp suốt từ sáng sớm đến đêm, xe cộ (chủ yếu là xe máy) đi lại tối hết cả mắt, vào giờ tan tầm thì thành phố là cả một biển xe, còi bấm inh tai, hình như chẳng có luật lệ nào. Có một điều thú vị đối với tôi là tuy đến đây lần đầu, nhưng tôi cảm thấy rất quen thuộc, cứ như đã sống ở đây lâu rồi, có thể kiếp trước sinh ra ở Việt Nam chăng? Chỉ hôm trước hôm sau, tôi có thể đi qua đường bình thường, chẳng sợ bị xe kẹp. Trong khi đó chồng tôi về nước mình mà cứ ngơ ngơ ngác ngác, trông đến là buồn cười.

Nhưng nhà tôi không phải quê ở Hà Nội mà là tỉnh Hưng Yên, cách thủ đô khoảng 30 km. Cạnh đường vào làng thấy ruộng cà chua đương ra quả, lại nhớ đến Ba Lan đương có tuyết. Làng quê chẳng đến nỗi nghèo nàn như tôi đã tưởng, nhà cửa đều xây và lợp ngói cả, nhiều nhà xây cất theo kiểu mới khá đẹp. Vì chồng tôi là trưởng tộc, nên tuy sống ở nước ngoài, theo tục lệ cũng được thừa hưởng nhà cửa và mảnh đất của tổ nghiệp cha ông. Nhà tôi không to, mới được sửa lại, nhưng khung cảnh rất đẹp, vẫn giữ được dáng dấp cổ truyền của miền quê Việt Nam. Trước nhà có cây leo, hoa nở rực rỡ, giữa sân có chậu hoa đào chuẩn bị cho ngày tết, cạnh nhà là rặng cau cao vút, ngoài vườn một cây nhãn xum xuê có chim đến bắt sâu, làm tổ, dưới vườn thì trồng rau sạch (đây cũng xin nói là tôi rất thích các loại rau của Việt Nam, ngày xưa không biết, cứ gọi là cỏ!). Trong nhà có bàn thờ tổ tiên, nhiều hiện vật còn lại từ thời cổ xưa. Trên bàn thờ còn cái hòm nhỏ, dài khoảng nửa mét, sơn đỏ, vẽ rồng mây mầu vàng. Nghe nói đấy là các hòm đựng gia phả, giấy tờ, sắc chỉ, gọi là hòm sắc, còn lại từ thời cụ nội chồng tôi làm quan. Nhưng nay thì chỉ còn hòm không. Khi cách mạng thành công, nhà nước thi hành cải cách thì mọi giấy tờ kể trên gia đình mang đốt cả. Hai bên bàn thờ, trên bốn cái cột còn treo 4 tấm gỗ dài sơn đen, khắc chữ Trung Quốc tô mầu vàng, gọi là câu đối. Chồng tôi bảo hai đôi câu đối ấy còn cổ hơn cả cái hòm sắc. Nhưng nay thì cả nhà chẳng ai biết chữ Trung Quốc.

Theo bố chồng đi tạ mộ
Theo bố chồng đi tạ mộ

Tết ở Việt Nam rất vui. Từ mấy năm nay chính phủ có lệnh cấm đốt pháo và bắn pháo hoa. Nhưng chính phủ cấm là việc của chính phủ, có lẽ chỉ mỗi nhà tôi chấp hành lệnh ấy.  Ở nông thôn, giao thừa đến thì ba bề bốn bên tiếng nổ ầm ầm, pháo thăng thiên bắn sáng quắc cả trời, kéo dài đến nửa tiếng đồng hồ. Từ 1 giờ sáng đã có người đến nhà chúc tụng, mừng tuổi. Năm mới, người đầu tiên đến nhà phải là đàn ông thì trong năm mọi việc mới may mắn được! Ngày đầu năm người đến nhà chúc tụng thăm hỏi nườm nượp. Hôm sau lại đến lượt vợ chồng tôi đi thăm hỏi, chúc tết họ hàng, làng xóm. Đến nhà ai tôi cũng cảm thấy một sự mến khách, thân thiện đặc biệt.

Hết Tết, đến ngày 15 tháng Giêng theo lịch Đông phương (gọi là ngày rằm), tôi theo bố chồng đi thắp hương tạ mộ. Một số người quá cố  quan trọng còn được cúng tiến lễ vật. Lễ vật gồm các món thức ăn ngon là thật, còn tiền nong, quần áo, ngựa nghẽo… làm bằng giấy, cúng khấn xong thì thức ăn mang về nhà cho người sống thừa hưởng, những thứ làm bằng giấy thì đốt đi, đấy tức là gửi cho người âm.

Voi ngựa đá giữa đồng, kỷ niêm thời thơ ấu của chồng tôi
Voi ngựa đá giữa đồng, kỷ niêm thời thơ ấu của chồng tôi

Ở quê tôi cùng chồng thăm lại những chỗ có kỷ niệm của anh thời thơ ấu. Làng chồng tôi bên cạnh con sông đào tên là Bắc Hưng Hải. Ngày nhỏ chồng tôi vẫn chăn trâu cắt cỏ ven sông. Bờ bên kia, giữa cánh đồng làng khác có một bầy voi, ngựa, chó tạc bằng đá rất đẹp, do cổ nhân để lại không biết từ đời nào. Chồng tôi kể thời đi chăn trâu, hay cùng lũ trẻ mục đồng hay bơi qua sông, sang đấy nghịch ngợm, cưỡi voi ngựa đá.

Gia đình chồng tôi theo đạo Phật, nhưng cùng xã có một làng gọi là làng Lực Điền theo công giáo. Đây có nhà thờ xây dựng từ đầu thế kỷ 20. Chồng tôi nói, trước kia cạnh nhà thờ còn có trường tiểu học, và anh đã từng đi học ở đây. Nhưng nay thì tiếc rằng trường không còn nữa. Nhà thờ trải qua một thế kỷ, tường đã  mốc meo, sứt mẻ và có nhiều vệt rạn nứt. Giáo dân ở vùng quê nghèo, vì thế không tu sử được cẩn thận. Tuy vậy dáng dấp còn lại của nhà thờ vẫn mang phong thái của một nền kiến trúc hoàn mỹ.  Đặc biệt là bên trong có hai hàng cột bằng gỗ, chân cột bằng đá giống như trong đình chùa Việt Nam vậy. Đấy là thứ mà nhà thờ bên châu Âu không có. Tiếc rằng tháp chuông (ở phía trước) bị huỷ hoại thời chiến tranh chống Pháp (chồng tôi bảo do Việt Minh đặt mìn giật đổ, vì sợ quân Pháp đến lấy tháp làm đài quan sát), mới xây lại thì không được đồng bộ cho lắm.

Nhà thờ làng Lực Điền
Nhà thờ làng Lực Điền

Về thăm gia đình cũng là dịp đi du lịch. Ở Việt Nam có rất nhiều chỗ đáng thăm thú, không kể hết được. Dưới đây tôi chỉ muốn điểm qua một số địa danh đã để lại cho tôi những ấn tượng không thể nào quên:

Văn Miếu Quốc Tử Giám
Văn Miếu Quốc Tử Giám

Văn Miếu Quốc Tử Giám. Trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Văn miếu được xây từ thời Lý, chứng tỏ nền văn hoá rực rỡ, lâu đời của nước Việt. Người Việt xưa nay rất trọng việc học hành. Đầu tiên đây là nơi học hành của các hoàng tử, sau được mở rộng thành Quốc tử Giám, con các nhà thường dân học giỏi cũng được vào đây học, thậm chí được cấp học bổng. Thời kỳ hưng thịnh nhất dưới triều Lê Thái Tông có đến hàng ngàn sinh viên ngoại trú học hành. Trong Quốc Tử Giám nay còn hàng loạt bia tiến sĩ tạc bằng đá, đặt trên lưng rùa, ghi tên tuổi quê quán những người đỗ đạt ngày xưa. Khung cảnh ở đây có cái vẻ thiêng liêng, tĩnh mịch, cách biệt hẳn với sự ồn ào náo nhiệt của thành phố bên ngoài.

Vịnh Hạ Long
Vịnh Hạ Long

Vịnh Hạ Long. Vịnh thuộc loại vịnh đẹp bậc nhất trên thế giới. Nhưng đứng trong đất liền nhìn thì cũng bình thường, phải theo tầu ra vịnh thì mới thấy hết vẻ đẹp của nó. Vịnh có  hàng trăm hòn đảo hình thù kỳ lạ, to nhỏ khác nhau. Đấy thực ra là những đỉnh núi nhô lên khỏi mặt nước, phía dưới bị sóng biển tiện mòn, phía trên vách núi chênh vênh, cỏ cây chen đá. Một số  đảo còn có những hang động tuyệt đẹp chẳng khác gì động tiên như hang Sửng Sốt, động Thiên Cung…

Nhà thờ đá ở Pha
Nhà thờ đá ở Phát Diệm tỉnh Ninh Bình

Nhà thờ đá ở Phát Diệm tỉnh Ninh Bình. Nhà thờ xây dựng vào đầu thế kỷ 20. Đây là một công trình kiến trúc độc đáo, cả về tầm cỡ và nghệ thuật, thuộc loại có một không hai. Nguyên vật liệu xây dựng toàn bằng đá và gỗ quý từ chân đến đỉnh, chạm trổ cực kỳ tinh xảo, mái cong cong giống hệt như đình chùa ở Việt Nam. Nếu không có thánh giá và tượng đức chúa Giê-xu thì không ai có thể đoán được đây là nhà thờ công giáo.

Đèo Hải Vân
Đèo Hải Vân

Đèo Hải Vân. Hải là biển, vân là mây, tên ấy khen ai khéo đặt. Nhìn từ đỉnh đèo, xa xa quả thấy núi xanh, mây biếc, sóng đầu bạc xô bờ. Thật là phong cảnh tuyệt vời không nơi nào có.  Đèo Hải Vân là con đường độc đạo từ Nam ra Bắc, từng chứng kiến bao nhiêu thảm cảnh máu lửa ác liệt trong lịch sử Việt Nam. Ngay cạnh tháp canh từ thời nhà Nguyễn còn có lô cốt lỗ chỗ vết đạn từ những năm chiến tranh tàn khốc chống Mỹ gần đây.

Ngọ  Môn Quan
Ngọ Môn Quan

Ngọ Môn Quan, cổng vào hoàng thành Huế. Cố đô Huê nằm bên bờ sông Hương, là hòn ngọc trong những di sản văn hoá của Việt Nam. Hoàng thành do vua Gia Long khởi công xây dựng vào năm 1802. Xung quanh có thành cao hào sâu bao bọc, trong thành là những cung điện nguy nga tráng lệ, còn lại tương đối nguyên vẹn. Những vùng lân cận có chùa Thiên Mụ, cầu Tràng Tiền, lăng của các vua triều Nguyễn, đình chùa miếu mạo… rất đáng thăm thú. Kinh thành Huế xây dựng theo khuôn mẫu cấm thành của Trung Hoa, về tầm cỡ cố nhiên không bằng, nhưng có một cái gì đó ấm cúng và nên thơ hơn.  Ai chưa đến cố đô Huế có thể coi như là chưa đến Việt Nam.

Cầu Chùa ở Hội An
Cầu Chùa ở Hội An

Cầu Chùa ở Hội An. Phố cổ Hội An bên bờ sông Hàn là di sản quý giá của Việt Nam. Vào thế kỷ 17, 18 thời các chúa Nguyễn là thương cảng sầm uất. Nơi đây có người Tầu, người Nhật (thậm chí cả thương gia phương Tây) đến sinh sống buôn bán, và họ còn để lại dấu ấn rõ ràng đến tận ngày nay. Mùa xuân mát mẻ, đây có rất nhiều du khách phương Tây đến từ Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nga, các nước bắc Âu… Rất tiếc là người Ba Lan thì không gặp. Nhưng tôi thật là cảm động khi nhìn thấy tượng người đồng hương, ông Kazimierz Kwiatkowski, tạc bằng đá.

Tượng Kazik
Tượng Kazik

Tượng Kazimierz Kwiatkowski ở Hội An. Người Việt gọi thân mật là Kazik. Ông là kiến trúc sư và đồng thời là nhà phục chế di tích lịch sử, có cống hiến rất nhiều cho việc bảo tồn những di tích vô giá của Việt Nam ở cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn và tất nhiên là Hội An. Ông cũng có công đầu trong việc đưa Hội An vào danh sách di sản văn hoá thế giới của UNESKO. „Kazik” sang Việt Nam từ 1981 và mất năm 1997 cũng tại tại Việt Nam trong khi làm việc. Nay thì con trai và con gái ông lại tiếp tục sự nghiệp phục chế và bảo vệ các di tích của Việt Nam.

Maria  Nguyễn

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu