Dòng nước lũ cuồn cuộn chảy xiết dưới chân cầu Thọ Tường (trên dòng sông La, Hà Tĩnh), một người phụ nữ lam lũ đang dầm mưa, phơi nắng đầy thương cảm.
Theo chân anh bạn về quê sau cơn bão số 9, chúng tôi ngược dòng sông La giữa muôn trùng biển nước đang nhấn chìm hàng nghìn ngôi nhà 2 bên bờ.
Dưới chân cầu Thọ Tường, một người phụ nữ già nua đang lọ mọ trên bè nứa rách nát và khốn đốn.
Tôi lên tiếng chào cụ, cụ ôn tồn trả lời và kèm theo một lời đề nghi rất tế nhị: “Chú có dư giả thì cho cụ xin ít đồng”.
Lúc đầu, tôi nghĩ đây là cụ già đi vớt củi trong dòng nước lũ, nhưng tôi đã nhầm. Ngồi lân la một lúc, cụ tâm sự về gia cảnh. Cái bè nứa tuềnh toàng, mong manh này chính “nhà” của cụ.
Cụ là Nguyễn Thị Duyệt (76 tuổi), cụ sinh vào năm quê hương (xã Ân Phú, huyện Vũ Quang) có cơn lũ lịch sử.
Ngày xưa, cụ vốn là người con gái tài sắc, xuất khẩu thành thơ, con nhà nghèo, lấy chồng sinh được 2 người con sau đó hạnh phúc bị tan rã, rồi một người đã có vợ lấy về làm vợ bé. Nhưng ngày vui qua mau, đoạn trường dang dở, từ đó cụ sống cảnh phiêu bạt, lên thác xuống ghềnh.
Đến nay, đã ở vào cái tuổi “xưa nay hiếm”, cụ lại rơi vào cảnh khốn cùng lênh đênh sông nước, không nhà, không chốn dung thân.
Tiếng đoàn tàu xa xa vọng lại, giọng cụ Duyệt buồn buồn đọc mấy câu thơ về cuộc đời mình được người em ở tận tỉnh Đắk Lắk viết lại:
“Trời ban cái nghiệp lê thê
Hai đầu hai sọt là nghề làm ăn.
Bây giờ hoàn cảnh khó khăn
Ai nuôi giúp chị được dăm bảy ngày.
Khi xưa đầu mặt đầu mày
Một phường trinh nữ, một tay ăn mần.
Xuất tiền cho kẻ thanh bần
Giơ tay vớt kẻ trầm luân giang hồ.
Một thời nôốc (*) nhỏ, nôốc to

“Kiếp phù dung chưa hẹn ngày rã cánh, vẫn bắt chị lên ngàn xuống biển”. Ảnh: Trí Thức
Bán buôn xuôi ngược ta lo một thời.
Vì tình chị chịu buông rơi
Xưa trong nệm ấm, nay người lang thang.
Em lo cho chị lỡ đàng
Ốm đau chẳng kẻ thuốc thang đỡ đần.
Em nhìn chị yếu lắm rồi
Không như cái lúc ngược xuôi nôốc bè.
Đầu ghềnh ngọn thác cửa khe
Nhanh tay lao ngọn Rào Tre vững vàng.
Duyên chi mà quá bẽ bàng
Sống chi mà lại vơ quàng phải seo.
Bởi không vững bước tay chèo
Cho nên lắm bước cheo leo một mình.
Một lần chị gặp sở khanh
Cho nên đời chị trở thành đơn phương.
Tơ duyên ngại vấn còn vương
Nhớ hoài một vết đau thương lỡ làng.
Người đâu bụng dạ đa mang
Để cho đời chị lỡ làng đến nay.
Làm ra mặt dạn mày dày
Vì im phải chịu đắng cay suốt đời.
Dù sao thì chuyện đã rồi
Em khuyên chị chớ tới lui thêm phiền.
Nhà lim cháy vẫn còn nền
Giấy rách thì vẫn còn biên, còn lề.
Chợ Hôm khách khứa bộn bề
Gió đông thổi nhẹ nôốc bè lao xao.
Đoạn cuối của những câu thơ trên cụ giải thích rất kỹ, ý nói là giờ con riêng của chồng cụ rất thành đạt, trong khi cuộc sống của bà bần hàn nhưng bà cũng không “tới lui thêm phiền”.
Cụ bám trụ ở chốn sông nước bên bờ dòng sông La, cạnh chợ Hôm (chợ thị trấn Đức Thọ) cũng vì mưu sinh. Cụ kiếm sống bằng cách mua nứa ngoài bến sông vào trong chợ bán lấy đồng lời mua cơm. Ngoài ra, người này người kia cũng cho cụ cọng rau, bát nước khi đói khát.
Những ngày mưa lũ, đói rét làm cho cụ tiêu điều hơn, vì vậy cụ Duyệt muốn về quê và nhờ chúng tôi chuyển lời: “Nếu chú lên huyện, nhờ chú nói với con chồng tui đang làm ở trên đó, gửi cho tui vài trăm để hết lụt tui có thể về quê”.
Tuy vậy, nhưng để khẳng định mình còn minh mẫn và tỉnh táo nhưng hoàn cảnh trớ trêu làm cho thế này, giọng cụ Duyệt lại nhẹ nhàng tuôn ra những vần thơ bi đát về cuộc đời chua xót lênh đênh của mình.
Cặp mắt sáng dáng đi còn nhanh nhẹn,
Lớp người bảy mươi xưa hiếm.
Nhưng chị tôi vẫn minh mẫn như thường,
Duyên số nào mà dẫn chị đau thương.
Kiếp phù dung chưa hẹn ngày rã cánh,
Vẫn bắt chị lên ngàn xuống biển.
Tối lửa tắt đèn nương dựa vào đâu?
Đói rét cơ hàn bữa cháo, bữa rau,
Ai nâng giấc đỡ đần người giây lát.
Em trách tạo hoá mà không có mắt,
Hạn Thuý Kiều cũng có mức có chừng,
Mười lăm năm lưu lạc rồi ngừng.
Riêng bà Duyệt bốn mươi năm trời chưa hết hạn.
Đến đây giọng cụ chùng xuống và những giọt nước mắt héo hon ướt đẫm trên đôi gò má nhăn nheo vì sương gió...
Cụ cũng cho tôi biết là khi trẻ, cụ từng đi dân công sang tận Lào và tham gia đắp đê La Giang nhiều lần, lúc đó cụ hát rất hay và cụ đọc lại những bài thơ kêu gọi thời bấy giờ rất hay cho chúng tôi nghe.
Bà Phạm Thị Minh (người nhiều năm chứng kiến cảnh sống khốn cùng của cụ Duyệt xót xa: “Con coi chứ cụ “sống vô gia cư, chết vô địa táng”, không có nơi nương tựa, cụ ở đây 5 năm rồi, mọi hôm cụ có một cái thuyền nho nhỏ nhưng đã bị hỏng, đợt lũ vừa rồi cụ khổ hết chỗ nói, mấy bữa nước to ướt như chuột lột, không mảnh áo che thân, quần áo không có mặc vì ướt mặc lạnh.
Tội lắm, hôm trước thấy một đoàn kiểm tra lũ các xã ngoài đê, tôi gọi cụ lên để họ cho ít gói mì tôm, cụ chưa bò được lên chân cầu thì họ đã đi qua nên đành chịu".
Chị gái bà Minh cũng cho biết thêm: Khi trẻ cụ sinh được 2 người con, đói quá nên nên phải cho người khác nuôi, giờ con cái trưởng thành, một đứa thì ở tận ngoài Bắc, còn một đứa thì ở gần quê, nhưng cụ không muốn về ở với con vì mặc cảm có công sinh mà không có công dưỡng nên cụ mới như thế này, may mà ở đây gần chợ, cụ lại sống thật thà nên dân làng họ cũng thương.
Trước khi chúng tôi rời “nhà” cụ Duyệt, cụ có nhắn gửi với chúng tôi: “Xã Ân Phú và huyện hứa làm nhà cho tui mà lâu rồi không thấy động tĩnh chi cả, chú có về trên Vũ Quang nhờ chú chuyển lời xin hộ tui với, tui chỉ mong có cái lều làm nơi che mưa che nắng, chứ già rồi cũng không cần gì to tát”.
(*): Nôốc: thuyền
![]() |
| Cụ Duyệt tại “nhà” của mình. Ảnh: Trí Thức |
![]() |
| Ngoài cái bè nứa rách nát, tài sản của cụ Duyệt chỉ có thế này. Ảnh: Trí Thức |
|
|
| Cuộc sống của bà Duyệt lênh đênh trong dòng nước lũ ở cái tuổi “xưa nay hiếm”. Ảnh: Trí Thức |
Trí Thức (vietnamnet)


