| |
| Cô giáo Mai Thị Tuyết gõ mõ gọi học sinh đến lớp ở điểm Trường Khấu Sỉn, Xín Mần (Hà Giang)- Ảnh: BÁCH VIỆT |
| Học sinh xếp hàng vào lớp ở Lùng Cúng - Mù Cang Chải - Ảnh: Hà Hương |
Những mối tình trên đỉnh núi
Từ bản Cao Phạ, nơi thầy từng dạy học, đến xã Lao Chải (Mù Căng Chải) của cô phải đi qua hàng chục kilômet qua đèo Khau Phạ luôn ngập trong mây mù lạnh buốt. Nhà của các thầy cô cắm bản dọc đường đến Lao Chải ngẫu nhiên trở thành “điểm trung chuyển tình yêu”.
Thầy Toàn kể nhiều lúc phải lội qua những con suối nước sâu đến tận cổ, thầy phải qua bản của các thầy giáo khác mượn quần áo khác để mặc. Cứ thế, cứ qua mỗi con suối sâu lại mượn quần áo của bạn. Đến điểm cuối cùng, sau khi đã tắm rửa sạch sẽ mới dám mang bộ quần áo đẹp nhất ra mặc. Đường về lại phải ghé qua chia chút quà của người yêu và trả lại quần áo.
Ban đầu mới đeo ba lô đi cắm bản, nhiều thầy, cô giáo tâm niệm sẽ không xây dựng gia đình ở nơi “rừng thiêng, nước độc” này, vì nếu vậy sẽ không dễ dàng quay về xuôi và cuộc sống sẽ mãi nhọc nhằn. Nhưng rồi một năm, ba năm, năm năm trôi đi vèo vèo, thực tế cuộc sống nơi đây khiến nhiều người đã phải thay đổi suy nghĩ. Hơn nữa, ở nơi heo hút, những người thầy cắm bản càng thấm thía nỗi cô đơn, càng cần xích lại gần nhau. Sự gian khổ, thiếu thốn và nỗi buồn khi màn đêm buông xuống đã là sự khởi đầu cho những mối tình của người thầy cắm bản.
Ở Nậm Có có đến 3-4 cặp vợ chồng lấy nhau khi phải cùng cắm bản trên những điểm trường xa xôi. Tuy nhiên, cưới nhau rồi lại xa nhau. Thầy Nguyễn Quốc Toàn ở Lùng Cúng thì vợ lại đến điểm Trường Tu San, thầy Bùi Văn Quân ở điểm Trường Phình Ngài, vợ ở điểm Trường Háng Cơ. Những cặp vợ chồng “cắm bản” thường chỉ ngóng nhau qua những ngọn núi. Thầy Toàn nói: “Rất nhiều lần vợ muốn thăm chồng, nấu cho nhau một bữa ăn rồi về, nhưng anh em chúng tôi đều không muốn, vì đường đi quá vất vả, lên rồi về lại buồn lo chồng chất”.
Hạnh phúc của các thầy, cô giáo cắm bản cũng nhọc nhằn như cuộc sống và công việc của họ. Thầy giáo Hoàng Anh Vượng ở điểm Trường Chế Tạo (Mù Căng Chải) giáp ngày cưới vẫn phải đi tập huấn, tối về chỉ kịp đi mượn vội bộ quần áo để cưới. Cưới xong vài ngày lại chia tay để về trường. Nhìn vợ mắt rơm rớm, lòng nặng trĩu nhưng vẫn phải ra đi.
Ở Lao Chải có những cặp vợ chồng nhà giáo cưới nhau cả năm trời nhưng không thể bố trí nổi một phòng ở riêng, hằng ngày vợ vẫn ở phòng độc thân của nữ, chồng ở phòng độc thân của nam. Ai cũng thương nhưng lực bất tòng tâm. Còn có những cặp vợ chồng nhà giáo như thầy Nguyễn Văn Hiên và cô giáo Trần Thị Vui cưới nhau hơn 20 năm mới được đoàn tụ. Vợ địu con trên lưng đi dạy ở một điểm trường, chồng đứng lớp ở nơi khác.
| Những đứa trẻ ở điểm trường Cáng Dông - Xéo Dì Hồ - Mù Cang Chải - Ảnh: Vĩnh Hà |
| Cô giáo "cắm bản" ở lớp ghép tại Xéo Dì Hồ - Mù Cang Chải - Ảnh: Vĩnh Hà |
Nỗi nhớ con giữa tứ bề là núi
Chỉ có Tết Nguyên đán và dịp nghỉ hè, những gia đình nhà giáo vùng cao phía Bắc mới có dịp đoàn tụ đầy đủ. Hầu hết thầy, cô giáo cắm bản chúng tôi gặp ở Mù Căng Chải (Yên Bái), ở Xín Mần, Đồng Văn (Hà Giang), Mường Tè, Sìn Hồ (Lai Châu) đều phải gửi con về quê để vợ chồng lo dạy học. Có gia đình phải gửi một con cho bà nội, một con cho bà ngoại, vợ chồng mỗi người ở một điểm, nỗi nhớ người thân chia làm bốn ngả đường.
Nếu như các thầy giáo có thể che giấu được sự mềm yếu vì nhớ con trong lòng thì với các cô giáo đó là việc cực kỳ khó khăn. Cô giáo Mai Thị Tuyết “cắm bản” ở Xín Mần đã khóc khi chúng tôi hỏi về chuyện gia đình.
Cô tâm sự: “Ngày mới lên tôi vẫn cố thu xếp về thăm con, nhưng lần nào về rồi quây quả đi cháu cũng khóc, cả nhà ôm nhau khóc nên sau này tôi không dám về nhiều. Hằng ngày cứ chiều đến lại ra sân xem bóng nắng, nhìn về phía chân núi xa mờ nghĩ về con. Những đêm trăng sáng, mấy chị em cùng điểm trường ngồi lặng nhìn sang bên kia sông Chảy, rồi mang rượu ra uống cho say. Nếu không thế sẽ không ngủ được”.
Tại những điểm lẻ của Trường tiểu học Căn Co, Sìn Hồ (Lai Châu), có nơi phải đi bộ đến gần 20km kể từ điểm trường chính, nỗi nhớ con của các cô giáo cắm bản bị nhốt lại giữa tứ bề là núi. Ban ngày dạy học, khi màn đêm buông xuống các cô giáo lại bị giằng xé nỗi nhớ con.
Thầy Bùi Công Nguyên - Trường tiểu học Xéo Dì Hồ - nói: “Đàn ông chúng tôi có lúc nghĩ đến con còn xót xa nữa là phụ nữ, nhưng mang con theo trên những chặng đường dạy học là một sự mạo hiểm. Giá rét, điều kiện thiếu thốn, chưa kể còn bị bọ chó hành hạ ghẻ lở đầy người khiến các thầy cô giáo không cầm lòng giữ con ở lại bên mình”.
Trò chuyện với các cô giáo nhiều năm “cắm bản”, chúng tôi đã phải cố gắng để tránh động đến nỗi niềm sâu kín của họ. Mỗi năm đoàn tụ hai lần, vợ chồng con cái ôm nhau cười ra nước mắt, nhưng ngay sau đó vẫn là nỗi lo cơm áo gạo tiền, chi phí đường trường của các cặp vợ chồng nhà giáo.
Vất vả, chống chọi với rất nhiều khó khăn trên những đỉnh núi heo hút, nhưng các thầy cô giáo “cắm bản” cũng chỉ nhận lương từ 1,2 triệu đến trên 3 triệu đồng/tháng, tùy theo thâm niên công tác. Tiền công tác phí cho những chuyến về trường hội họp, theo thầy Lò Văn Bích, hiệu trưởng Trường tiểu học Vừ A Dính - Nậm Có, chỉ có thể chi 1.000 đồng/km/lần đi. Mà mới chỉ có năm nay, còn trước kia các thầy phải tự túc. Mức chi phụ cấp đứng lớp ghép được giao về cơ sở nên những nơi quá khó khăn như Mù Căng Chải số tiền này rất ít ỏi.
Theo Phòng GD-ĐT Mù Căng Chải (Yên Bái), năm qua cũng có vài chục thầy cô giáo xin chuyển vùng, có người bỏ nghề. Ở Mù Căng Chải, chuyện “chảy máu chất xám” cũng xảy ra, nhiều thầy cô tâm huyết, chuyên môn, kinh nghiệm vững vàng bỏ đi không ngăn lại được. Những người ở lại trên những đỉnh non cao là những thầy cô giáo thật sự yêu nghề. Họ cũng có những lúc đấu tranh giữa chuyện đi hay ở, nhưng rồi trách nhiệm, sự cảm thông, thương yêu với học trò đã giữ họ ở lại nơi xa mù này.
VĨNH HÀ - HÀ HƯƠNG (Tuổi trẻ)
______________________
Hầu như tất cả thầy cô giáo khi lên những vùng cao “cắm bản” đều muốn quay về, bỏ nghề. Nhưng có những sợi dây vô hình ràng buộc người thầy với những đứa trẻ vùng khó.