Theo thống kê mới nhất của trang web www.confluence.org, hiện nay Việt Nam có 39 “chấm” biên thùy là điểm có đường kinh tuyến chẵn và vĩ tuyến chẵn giao nhau, trong đó 22 “chấm” đã bị chinh phục và viết báo cáo.
Trên bản đồ, 20N105E nằm ở vị trí xã Bát Mọt, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Bản đồ Google cho thấy vị trí của “chấm” nằm lọt giữa dải rừng chạy dọc biên giới phía Tây Thanh Hóa, nhìn rất gần với đường biên Việt – Lào. Nơi này một vài thành viên của nhóm Otofun – một nhóm dân chơi GPS chuyên “săn chấm” đã tới và “đạp chấm” biên thùy…

1. Hôm tôi đến cũng là ngày dải đất giáp biên này vừa ngâm mình trong một đợt mưa thâm đầu đông. Sương mù nhòa trắng lòng thung, trên hầu khắp các đỉnh núi, nếp nhà, không phân biệt được đâu là sương bay, khói tỏa, tầm nhìn xa chỉ được 2 đến 3 mét. Chiếc xe 18 chỗ sau mỗi cú đạp ga, về số, nhả côn cứ “sặc” lên, bươn đi từng mét. Nhiều đoạn, xe nhảy lôm côm như một bao diêm gắn bánh xe bọ xít bị giật nhát hồi, xẹo xệ trên những cung đường uốn lượn, lổn nhổn những đá xanh, trơn trượt.
Thi thoảng, đến đoạn không thể xử lý nổi, bác tài người vừa vặn vỏ đỗ theo vô lăng, vừa hô một tiếng “giữ chặt” là những cú đạp phanh dúi dụi, bánh xe cày tròn, bốc khói khét lẹt. Nhiều đoạn dốc trơn, xe “tắt thở”, trôi xuôi khiến hành khách có cảm giác lâng lâng, sởn da gà, dựng tóc gáy tưởng như đã “vào miệng tử thần”. Cũng may, xe lên hay xe về đều “no hàng”, theo như bác tài giải thích, nếu không thì dễ rơi xuống vực như chơi.
Vào mùa mưa đi chuyến xe này ngược Yên Nhân, Bát Mọt, bác bảo chả mấy khi xin tiền hành khách, hoặc chí ít là “giảm cước” bởi mỗi khi gặp dốc cao, từ phụ xe cho đến hành khách đều phải xuống, dàn hàng ngang ra mà dô ta, dô huầy căng tay, dạng chân ra mà “cày xe”, chèn bánh. Lên đỉnh dốc, xe dừng lại, đợi hành khách lên, bác tài “về mo” cho xe trôi xuống dốc, đến lưng chừng lại cài số, nới côn cho xe nổ, lên được mét dốc nào thì lên, xong rồi thì lại phanh, lại tiếp tục nhờ sự trợ giúp của hành khách. Cứ thế, hết đèo này đến dốc khác, những chuyến hàng chủ yếu là lương thực rẻ tiền đến với bà con miền núi nơi đây, có thể nói không ngoa là cả một kỳ tích, được tạo nên bởi sự quyết tâm không biết mệt mỏi của con người.
Lái buôn mang thực phẩm lên nhưng không bán. Mà có bán thì nói thật, bà con dân bản cũng không có tiền mặt để mua. Chính vì thấy đó là cơ hội “kiếm đậm” nên hầu hết lái buôn chỉ “đổi của rừng lấy của xuôi”. Ví dụ; bà con dân bản vào rừng chặt được 1.000 gianh kè (tương đương với 1.000 tàu cọ), phát giá 40.000 đồng/100 gianh, vị chi 1.000 gianh bà con kiếm được 400 ngàn đồng, chia cho khoảng 10 người (mỗi người được khoảng 40 ngàn đồng).
Nhưng số gianh ấy, bà con sẵn sàng đổi lấy 2kg thịt chó trị giá khoảng gần 200 ngàn đồng chỉ để… “ngả nghiêng giời đất một hôm với rừng” là xong. Trong khi đó, số gianh này về thị trấn huyện, lái buôn không cần chào mời ai cũng có người đến tận xe mua với giá gấp đôi là bình thường… Và bình thường hơn nữa là con người ở những góc rừng, rìa bản dọc tuyến đường tìm đến chấm biên thùy mà tôi gặp cứ vẫn cứ hồn nhiên, hồn nhiên một cách lầm lũi, vất vả như tiền định đã đóng đinh vào số phận để hàng ngày chỉ mưu sinh bằng cách ấy thì phải.

2. Trước khi tìm đến chấm và đạp chấm, tôi có dịp ghé thăm khu nhà ở của giáo viên Trường THCS Yên Nhân, cách chấm 20N105E gần 30km.
Không được kiên cố như dãy lớp học, khu nhà dành cho giáo viên nói chung cũng rất tạm bợ, chật chội như “lều trọ học” của học sinh. Mỗi gian chỉ vỏn vẹn gần 6m2, đủ kê một cái bàn nhỏ, một chiếc giường đơn nếu là ở một người, còn giường đôi đối với cặp vợ chồng thì “hết chỗ cựa”. Trong căn phòng đó điện lưới không có, đêm đến khu vực trường học tối như bưng, khu nội trú giáo viên thông thốc gió lùa, mỗi phòng một ngọn đèn dầu không đủ sáng để cùng một lúc cả hai vợ chồng soạn giáo án. Nếu chồng soạn giáo án thì vợ phải ngồi chờ hoặc đáo sang phòng khác, xem đồng nghiệp có “rỗi đèn” thì “xin tý ánh sáng” để ngồi soạn.
Cô Định, một giáo viên có thâm niên 30 trong nghề, tình nguyện “đầu quân” lên Yên Nhân từ năm 2007, nhún vai nói với tôi: “Vất vả lắm, vất vả đến không thể kể hết ra được. Cuộc sống hàng ngày của giáo viên ở đây thiếu thốn trăm bề. Về mùa khô còn đỡ, nếu là mùa mưa, có những tuần ăn cơm với muối, bột canh là thường. Đường từ huyện lên đây quá xa (60km), lại toàn là đường đất, đá lởm chởm, nắng leo cũng oải mà mưa xuống thì trơn, đi đường không cẩn thận té vực là chuyện thường. Vào mùa mưa dân buôn bán dưới xuôi không thể mang thực phẩm lên được, các cô hết sạch thức ăn, chỉ còn cách xắn quần, xắn áo vào rừng lấy măng, lấy rau rừng về luộc”.
Cuộc sống khó khăn thiếu thốn là vậy, nhưng giáo viên nơi đây vẫn bám trường, bám bản để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ trồng người. Cả xã Yên Nhân có 6 bản, thì có tới 4 bản nằm cách trường tới hơn 10km, 100% cư dân là người Thái. Hàng ngày, ngoài giờ lên lớp, các giáo viên phải chia nhau cuốc bộ vào từng bản để “nắm bắt tình hình”, vận động các em đến trường đầy đủ, qua đó tạo quan hệ thân thiện với các em cũng như với phụ huynh học sinh trong việc phối hợp thực hiện khẩu hiệu “tất cả vì tương lai con em chúng ta”. Để làm tốt việc này, hầu hết giáo viên phải học “ngoại ngữ” (tiếng Thái) nhằm giao tiếp với người dân cũng như với các em học sinh được thuận tiện hơn. Ngoài ra, các thầy cô còn phải tự thiết kế giáo cụ trực quan, đồ thí nghiệm để phục vụ cho việc dạy của mình và học của các em ngày càng hiệu quả, sinh động như: Thước đo độ khổ lớn, quả địa cầu, compa gỗ, bản đồ, sa bàn địa lý....

3. Đến xã Bát Mọt – cách chấm 20N105E 17km đường rừng thì chuyện ăn ở, học hành của giáo viên và học sinh lại càng khó khăn hơn. Mỗi bản đều có một khu lớp lẻ, học sinh ít, nhà trường phải ghép lớp, cả xã còn 6 phòng học ghép 12 lớp do 6 giáo viên phụ trách. Mỗi giáo viên phải đảm nhiệm 2 lớp, chỗ ăn ở chưa được xây dựng, xa nhà dân, xa trung tâm xã, thiếu thốn đủ bề.
Thường thì nhà trường phải bố trí chỗ ở cho các cặp vợ chồng cùng bám trụ... Do địa bàn xã quá rộng, có 4/9 bản cách trung tâm xã từ 8 đến gần 20km, nên hơn một nửa số học sinh của nhà trường có nhu cầu ở bán trú. Hiện tại, nhà trường mới chỉ có 4 phòng bố trí cho 30 em và cũng chưa được trang cấp nội thất. Điều đó đồng nghĩa với việc gần 150 em học sinh vẫn phải mượn đất của các thầy, cô giáo, nhân dân gần trường xây dựng lán trại ở tạm.
Năm học mới 2009 - 2010, nhà trường vẫn còn 3 phòng học chưa có bàn ghế đúng quy cách, phòng học lớp ghép không bảo đảm, nơi ăn ở của giáo viên khu lẻ còn tạm bợ, khu chính chưa có nhà hiệu bộ, tường rào. Tuy vậy, điều đáng mừng là giáo viên chưa ai nghĩ đến chuyện bỏ nghề, bỏ học sinh. Nhà trường luôn duy trì tốt sĩ số, không có học sinh trong độ tuổi bỏ học, hoàn thành phổ cập giáo dục đúng độ tuổi từ năm 2003, hàng năm đều có học sinh và giáo viên giỏi cấp huyện, tỉnh, 3 năm học gần đây trường được công nhận trường tiên tiến cấp tỉnh, năm học 2008 - 2009 được tỉnh tặng bằng khen.
Và, việc năm nay, lần đầu tiên có học sinh Vi Thị Thu người bản Vịn, (bản xa trung tâm xã nhất nhưng lại là bản “sở hữu” chấm 20N105E) thi đỗ vào Trường Đại học Lâm nghiệp (Hà Nội). Đây là một kỳ tích, trở thành niềm tự hào của bản Vịn, của cả xã Bát Mọt.
Trước khi cuốc bộ vào bản Vịn để “đạp chấm”, theo luật, tôi phải ghé Đồn Biên phòng 505 để xin giấy xuất nhập địa phận vùng biên. Một cán bộ biên phòng hỏi tôi vào Vịn làm gì bởi từ đồn vào đến bản, chưa kể đến chấm 20N105E, còn phải hơn 10km nữa. Tôi thổ lộ tâm nguyện muốn được “đạp chấm” thì anh lắc đầu: “Chấm này dân chơi GPS “đạp cho tơi bời” rồi, thú gì nữa mà đạp mới chả đấm. Ở miền đất này có nhiều chấm quý hơn chấm đó sao anh không tìm đến?”.
Tôi hỏi lại những chấm anh vừa nói ở đâu, có thể “đạp” được không thì anh cười, chỉ tay về phía những em học sinh, những thầy cô giáo đang xuýt xoa trong cái lạnh đầu Đông đến trường: “Đấy, những chấm biên thùy mà tôi muốn nói đến đấy! Không chỉ của riêng nơi “xó rừng” này đâu anh ạ. Những chấm này rồi đây sẽ rải đi khắp đất nước, của đất nước và vì đất nước… Đó là những chấm quý giá!”
Ký sự của Hữu Tùng (TT&VH)