Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Chuyện nàng vợ ba ông Cai Vàng

08/08/2010 5 phút đọc Lê Thái Dũng
Khâm phục ý chí tài năng của một trang nam nhi hảo hán, cô Miên chấp nhận làm lẽ, trở thành vợ ba của Cai Vàng, một
Chuyện nàng vợ ba ông Cai Vàng

Khâm phục ý chí tài năng của một trang nam nhi hảo hán, cô Miên chấp nhận làm lẽ, trở thành vợ ba của Cai Vàng, một cai tổng ở huyện Phượng Nhỡn, Bắc Ninh, đã dũng cảm đứng lên phất cờ khởi nghĩa chống lại thực dân Pháp.


Ông Cai Vàng tên thật là Nguyễn Văn Thịnh, một cai tổng ở huyện Phượng Nhỡn, Bắc Ninh. Tháng 3 năm Nhâm Tuất (1862) vì căm giận bọn quan lại tham nhũng, bất bình trước việc triều đình nhà Nguyễn hèn nhát, nhượng bộ thực dân Pháp xâm lược, ông đã phất cờ khởi nghĩa, suy tôn Lê Duy Thuần làm minh chủ, còn mình tự xưng là nguyên soái nhưng nghĩa quân và nhân dân vẫn quen gọi một cách thân mật là ông Cai Vàng.

 

Được sự ủng hộ của dân chúng, Cai Vàng đem quân chiếm huyện Phượng Nhỡn rồi đánh thành Lạng Giang, huyện lỵ Yên Dũng, mở rộng địa bàn hoạt động. Ông còn liên kết với nghĩa quân “châu chấu” ở Sơn Tây do thủ lĩnh Tuần Nhờn lãnh đạo, hai bên có nhiệm vụ ứng cứu cho nhau, tạo thành thế ỷ dốc vững mạnh. Từ đó thanh thế nghĩa quân ngày càng lớn, nhiều anh hùng hào kiệt tìm đến xin được đứng dưới cờ.

 

Có cô Lê Thị Miên, mới ngoài 20 tuổi quê ở Đông Triều (Quảng Ninh) bị bọn cường hào địa phương bức bách cũng tìm đường đến tham gia nghĩa quân. Vốn là người thông minh nhanh nhẹn, con gái một thầy đồ nên từ nhỏ cô đã được học thơ văn, sau lại rèn luyện cung kiếm, sớm nổi danh văn võ song toàn. Chính vì vậy, cô Miên nhanh chóng trở thành một trong những nhân vật thuộc bộ chỉ huy của nghĩa quân, cùng hàng ngũ với Quận Ngổ, Đốc Xồm, Đốc Đen, Quận Nành…

Hình ảnh về Bắc Ninh xưa. (Ảnh minh họa)

 

Qua thời gian gần gũi, dần dần giữa Cai Vàng và cô Miên nảy sinh tình cảm; khâm phục ý chí tài năng của một trang nam nhi hảo hán, cô Miên chấp nhận làm lẽ, trở thành vợ ba của Cai Vàng, từ đó mọi người thường gọi là bà Ba.

 

Trước sự mở rộng địa bàn hoạt động của nghĩa quân Cai Vàng, triều đình nhà Nguyễn rất lo lắng, quyết tâm tiêu diệt bằng việc huy động nhiều cuộc tấn công đàn áp nhưng đều bị đánh bại. Việc hạ sát Cai Vàng vì thế trở thành một mục tiêu quan trọng hàng đầu mà quân tướng nhà Nguyễn ở Bắc Ninh buộc phải thực hiện.

 

Ngày 30 tháng 8 năm Quý Hợi (1863), trong một lần đi tuần trên sông Thương, Cai Vàng bị phục binh quân Nguyễn do Lãnh Tảo chỉ huy bắn trọng thương; thủ hạ cố sức phá vòng vây đưa ông về đến doanh trại thì Cai Vàng mất. Bà Ba đau xót trước cái chết của chồng, thề quyết trả thù. Đầu xuân Giáp Tý (1864), toàn bộ lực lượng nghĩa quân được huy động dưới sự chỉ huy của bà Ba Cai Vàng đã tấn công mãnh liệt và hạ thành Bắc Ninh, bắt sống nhiều binh tướng của triều đình, trong đó có tên lãnh binh Tảo.

 

Sau khi giết Lãnh Tảo để làm lễ tế chồng, ngày 11/3/1864 bà Ba tuyên bố giải tán nghĩa quân khi thấy sự không cân sức về lực lượng, muốn tránh không cho máu đổ thêm nữa. Bà xuống tóc đi tu, lấy pháp hiệu là Đàm Giác Ninh, ẩn danh ở chùa Hương Thuỷ (nay thuộc Đại Trạch, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh). Để tưởng nhớ chủ soái Cai Vàng, bà đã cho lập ngôi miếu thờ ông và những tướng sĩ đã tử trận, gọi là miếu Âm Hồn. Bà cũng bí mật cho người tìm và chuyển 450 hài cốt nghĩa quân ở các nơi quy tập thành một nghĩa trang ở gần miếu Âm Hồn. Ngoài việc tụng kinh niệm Phật, bà còn giúp đỡ, tạo phước cho nhân dân quanh vùng. Khi bà viên tịch, dân táng bà tại miếu Âm Hồn, bên cạnh mộ thủ lĩnh Cai Vàng, họ còn xây tháp và tạc tượng bà thờ trong chùa Hương Thuỷ.

 

Người dân còn truyền tụng rằng vì khâm phục một nữ tướng trí dũng song toàn, một nhà sư cao minh đức độ mà dân chúng ở Thuận Thành và nhiều vùng lân cận đã tới phúng viếng rất đông. Trong số hàng trăm câu đối, vật phẩm gửi đến, có một gói vuông bọc lụa, khi mở ra mọi người thấy bên trong có 32 miếng gỗ vuông rời, mỗi miếng gỗ có viết một chữ trong vòng tròn đỏ.

 

Sau mấy ngày bàn luận, các vị phụ lão, các bậc túc nho trong làng mới xếp thành đôi câu đối: “Tiểu cát phục nhung y, kỵ mã huy kỳ, danh trấn anh hùng nhân Kinh Bắc/Xuất gia quy thiền phái, chiêu kinh tịch kệ, giác chân đức độ Phật Như Lai” (Nghĩa là: Thời trẻ mang võ phục, cưỡi ngựa phất cờ, nức tiếng anh hùng người Kinh Bắc/Xuất gia vào cửa thiền, tụng kinh đọc kệ, hiểu tường đức độ Phật Như Lai).

 

Thấy câu đối lạ, lại hay, bao quát được hết cuộc đời của một con người mà nhân dân yêu quý, ngưỡng mộ; dân làng Đại Trạch đã thuê thợ ở Đình Bảng làm sơn mài đôi câu đối và treo hai bên chính điện miếu Âm Hồn. 

 

 

Lê Thái Dũng (Đất Việt)
Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu