Kể từ khi nhà Lý cho biên soạn và ban bố bộ Hình thư, bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta, đến nhà Trần đã có Quốc triều thống chế, Hình luật thư, Hình thư, nhà Hồ có Đại Ngu quan chế hình luật và đặc biệt từ thời Hậu Lê nền lập pháp đã có bước tiến dài, nhiều bộ luật được biên soạn như: Luật thư, Thiên Nam dư hạ tập, Quốc triều luật lệnh, Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức), Quốc triều chiếu lệnh thiện chính thư, Hồng Đức thiện chính thư, Quốc triều điều luật …
Tố tụng có thể hiểu giản lược là các quy định của luật pháp liên quan đến trình tự, thủ tục khám xét, bắt giữ, khởi kiện, giải quyết quy trình tiến hành vụ việc, xét xử, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các bên… Trong các bộ luật được ban hành trước Quốc triều khám tụng điều lệ đã có những điều luật về thủ tục tố tụng, nhưng phân tách ra riêng thành một bộ luật, một văn bản pháp lý độc lập thì đây là lần đầu tiên.
Theo sử liệu cùng các nguồn thư tịch khác và ngay trong nội dung Quốc triều khám tụng điều lệ đã cho biết bộ luật này được ban hành vào năm Đinh Dậu (1777) đời vua Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 38. Phần đầu của Quốc triều khám tụng điều lệ có ghi: “Cảnh Hưng tam thập bát niên, cửu nguyệt, nhị thập nhị nhật” (Niên hiệu Cảnh Hưng thứ 38, ngày 22 tháng 9), bộ luật này còn có tên ban đầu là Từ tụng điều lệ.
Quốc triều khám tụng điều lệ có tổng cộng 31 lệ (điều), bắt đầu là Thông lệ về khám tụng và kết thúc là Lệ thân sức lại dịch. Toàn bộ nội dung của văn bản pháp luật này quy định rất rõ ràng, cụ thể về trình tự kiện tụng và xét xử, ví dụ như ở lệ thứ 2 có đoạn viết:
“Các quan Phủ doãn, Thừa ty nhận tra xét các đơn khiếu tố chỉ cho điều tra án tích, không được đòi gọi những người bị khiếu tố đến công đường, đồng thời thẩm tra tình lý trong hồ sơ, nếu quan tiền thứ xét xử trái lệ thì phải thu, lưu giữ bản án của lần trước và xử phạt quan tiền thứ. Nếu quan tiền thứ thụ lý vụ án hợp lệ, xét xử hợp lệ thì bác, trả lại đơn khiếu nại và khen thưởng quan tiền thứ.
Nếu ngược lại thì không cần bên khiếu tố, đến kỳ tra soát lại các án kiện, quan tra soát thấy án tích trái lệ thì cũng chiếu theo tụng lý xử phạt. Nếu quan tra xét che giấu, khi bị phát hiện ra cũng phạt quan tra soát như quan đã xử án trái lệ.
Quan Phủ doãn, Thừa ty đã xử, thu lại, đình chỉ, bác trả mà người đi kiện vẫn chưa phục, nếu sự tình vụ việc tương đối nặng mới cho khiếu tố lại lần nữa ở quan Ngự sử đài. Ngoài ra không được tùy tiện khiếu tố ở quan Ngự sử đài”.
Sau khi bộ Quốc triều khám tụng điều lệ được hoàn thành, chúa Trịnh Sâm đã ban chỉ truyền cho công bố rộng rãi để cả nước đều biết, nhất là các cơ quan địa phương đồng thời chỉ thị áp dụng triệt để. Lệnh chỉ viết:
“Chỉ truyền cho các nha môn khám xét xử án trong ngoài kinh. Hễ là việc kiện tụng, quý ở chỗ thanh liêm giảm phiền hà. Từ trước tới nay điều lệ khám xét, xử án trải qua các triều đại đã chuẩn định đầy đủ tường tận, nhưng hữu ty khi thi hành phần lớn chỉ coi đó là văn bản giấy tờ, ít người biết nghiêm cẩn thực hiện theo, lâu này tích tụ trở thành nỗi thống khổ cho dân.Các sự việc đó triều đình đã biết rõ cả, nay giao xuống cho đình thần tham khảo châm trước lệ khám tụng, đặt ra luật pháp chuẩn định biên soạn thành sách, rõ ràng chuẩn xác, ban xuống cho các nha môn khám tụng tuần hành.
Từ nay về sau tuân theo điều lệ mà khám xét, xử án, đồng thời chuyển sức cho thuộc liêu và các lại dịch nhất thể tuân hành, cốt làm cho các vụ án được giải quyết công bằng, hợp lý, dân chúng được nhờ cậy, để xứng với trách nhiệm của mình. Nếu vẫn khinh thường tùy tiện làm tắt và không biết nhắc thuộc viên, dung túng lẫn nhau làm điều tệ hại thì quốc gia đã có luật pháp, quyết không thể tha tội.
Nay truyền!”
Viết về ý nghĩa và tầm quan trọng của Quốc triều khám tụng điều lệ, trong bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí soạn vào thời Nguyễn, ở mục Hình luật chí, tác giả Phan Huy Chú đã viết: “Đời Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 38, sửa định điều lệ về xét xử kiện tụng… Các lệ xét kiện đã được chuẩn định trong năm Đinh Dậu đời Cảnh Hưng… Tham chước quy thức của các triều, hoạch nhất rõ ràng, điền mục tỉ mỉ, không gì bỏ sót. Người xét xử sẵn có luật thường để quyết định, có lệ thường để thích ứng, nếu noi theo cẩn thận thì dứt được tệ nạn, bớt được hình ngục”.
Có thể thấy sự ra đời của bộ luật tố tụng đầu tiên như một nhu cầu tất yếu đối với một xã hội cần điều chỉnh tốt hơn nữa quan hệ giữa các tầng lớp, giai cấp, các cá nhân trong cộng đồng xã hội. Sự hình thành và phát triển của hệ thống các văn bản điển chế và pháp luật phong kiến nói chung và lĩnh vực tố tụng nói riêng đã phản ánh sự phát triển của các định chế chính trị, nhà nước và pháp quyền thời phong kiến, là một dấu mốc quan trọng của nền lập pháp Việt Nam.
Lê Thái Dũng (Bee.net)