Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Hoang dâm hiếu sắc, vua Mạc mất 'ngôi báu'

05/08/2011 6 phút đọc
Là vua lâu nhất trong số các vua Mạc thời hưng thịnh, tại vị 30 năm, nhưng Mạc Mậu Hợp lại chính là người khiến cơ
Hoang dâm hiếu sắc, vua Mạc mất 'ngôi báu'
Là vua lâu nhất trong số các vua Mạc thời hưng thịnh, tại vị 30 năm, nhưng Mạc Mậu Hợp lại chính là người khiến cơ nghiệp nhà Mạc suy vong, mà một phần nguyên nhân chính là do... thói hoang dâm hiếu sắc.
 
Mạc Mậu Hợp (1562 – 1592) là vị vua thứ năm của nhà Mạc thời Nam Bắc triều trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Ông sinh năm 1560, là con trưởng của hoàng đế Mạc Tuyên Tông. Do vua cha bị bệnh đậu mùa mất sớm, Mạc Mậu Hợp mới lên 2 tuổi đã được Khiêm vương Mạc Kính Điển là phụ chính đưa lên ngôi tháng 1 năm 1562. Lúc này, triều chính vẫn do hai ông chú là Mạc Kính Điển và Mạc Đôn Nhượng phụ tá. Mậu Hợp lên ngôi lấy niên hiệu là Thuần Phúc thứ nhất.

Thỏa dục vọng...

Sử sách chép rằng, Mạc Mậu Hợp sống xa hoa, kiêu ngạo, hay nghe xiểm nịnh, thường ít lắng nghe lời bàn luận, khuyên can của các bậc lương thần và đặc biệt, rất hoang dâm hiếu sắc. Để thỏa mãn dục vọng, vua không ngần ngại "mưu giết bề tôi, đoạt mỹ nhân", cụ thể định giết một danh tướng trong triều để cướp vợ khiến cho một bộ phận binh lực nhà Mạc đã theo viên tướng này về quy phục vua Lê, làm cho thế lực của Mạc Mậu Hợp ngày càng suy yếu.

Một góc thành nhà Mạc.

Chuyện rằng, nguyên lão tướng Nguyễn Quyện sinh được hai con gái. Con gái lớn là hoàng hậu Nguyễn Thị của Mạc Mậu Hợp, con gái thứ Nguyễn Thị Niên là vợ tướng Bùi Văn Khuê. Tháng 8 năm 1592, Nguyễn Thị Niên vào cung thăm chị, Mạc Mậu Hợp thấy sắc đẹp của thị Niên nên muốn chiếm đoạt, bèn triệu vào phòng để giữ lại trong cung tới sáng rồi giữ luôn, dự định triệu Bùi Văn Khuê về kinh để giết. Nguyễn Thị Niên sợ hãi bèn sai người hầu cận mật chạy đi báo cho Bùi Văn Khuê.

Sách Lê triều thông sử viết: “Sự việc này xảy ra vào cuối năm Nhâm Thìn (1592). Vợ viên trấn thủ Nam đạo Sơn quận công Bùi Văn Khuê là Nguyễn Thị Niên, tức con gái Nguyễn Quyện. Chị gái của Thị Niên là hoàng hậu của Mậu Hợp vì thế Thị Niên thường được ra vào trong cung. Mậu Hợp thấy Thị Niên, đem lòng yêu mến bèn ngầm tính kế giết Văn Khuê để cướp vợ y”.

Khâm định Việt sử thông giám cương mục cho biết rõ hơn: “Chúa Mạc là Mậu Hợp ngày ngày say đắm tửu sắc. Nguyễn thị là con gái của Nguyễn Quyện và là vợ Bùi Văn Khuê, nhân có em gái là vợ của Mạc Mậu Hợp, nên thường ra vào trong cấm cung. Mậu Hợp ưng ý Nguyễn thị vì nàng có nhan sắc, nên muốn giết Văn Khuê để chiếm lấy nàng. Văn Khuê biết chuyện, bèn đem quân bản bộ tự ý rút về Gia Viễn, đóng binh một chỗ, không chịu vào chầu. Mậu Hợp sai quân đến bức bách để bắt Văn Khuê sai con trai là Văn Nguyên chạy vào Thanh Hoa, dâng lễ đầu hàng và xin cứu viện. Trịnh Tùng ưng nhận cho hàng và mừng rỡ nói: Văn Khuê đầu hàng, thế là trời giúp cho ta được chóng thành công. Đất đai bản triều có thể hẹn ngày khôi phục được”.

... Hại mình

Khi Bùi Văn Khuê cùng cánh quân thuỷ, vốn là sở trường của quân Mạc, xin hàng Nam triều, thì Trịnh Tùng bèn sai Hoàng Đình Ái dẫn một đạo quân đi trước, để cứu Văn Khuê và khởi đại binh theo sau.

Cùng thời điểm đó, một đại tướng khác là Trần Bách Niên thất vọng vì Mạc Mậu Hợp cũng sang hàng Nam triều. Liên tiếp hơn 10 tướng Mạc sang hàng Lê. Tình hình nhà Mạc ngày càng nguy cấp, khi đó trong triều chỉ còn trông cậy vào một mình Mạc Ngọc Liễn.

Ngày 14 tháng 11 năm 1592, quân Nam triều chia hai đường thuỷ lục cùng đánh từ Hát Giang. Mạc Ngọc Liễn dàn chiến thuyền chống cự, trồng cột gỗ dưới lòng sông, đắp luỹ trên bờ cố thủ. Trận chiến diễn ra ác liệt từ ngày 4 đến 14 tháng 12 năm 1592, thì luỹ quân Mạc bị quân Nam triều phá, Ngọc Liễn bỏ thuyền chạy về núi Tam Đảo, quân Mạc tan vỡ.

Trịnh Tùng đích thân đốc bộ binh, thừa thế đuổi dài, thủy quân cũng thuận dòng xuôi xuống, tới cửa Nam kinh thành Thăng Long, đóng tại bến Sa thảo, bắt được hơn nghìn chiến thuyền, kể cả lớn nhỏ. Đêm 14 tháng 12, vua Mạc Mậu Hợp bỏ kinh thành chạy trốn về Kim Thành (Hải Dương), còn tướng sĩ thì nối tiếp ra hàng. Ngày 15 tháng 12, Trịnh Tùng tiến quân về Kim Thành.

Theo sử sách, vua Mạc Mậu Hợp sét đánh không chết, nhưng khi mất lại cực thảm. Ông đã cạo đầu làm sư, ẩn ở chùa Mô Khuê hạt Phượng Nhãn, nhưng vẫn bị lộ. Khi về hàng, Trịnh Tùng sai đem treo sống vua Mậu Hợp 3 ngày, rồi chém đầu tại bãi cát Bồ Đề, rồi đem đóng đinh vào 2 con mắt, bêu ra ngoài chợ 5 ngày.

Do bị giết và sau khi chết, nhà Mạc cũng mất nên Mạc Mậu Hợp không được đặt miếu hiệu và thuỵ hiệu.

Sự thất thế của Mạc Mậu Hợp không chỉ vì lối sống xa hoa, ham sắc, mà còn do bản tính kiêu ngạo, ít chịu nghe lời bàn về việc quân cũng như việc triều chính của các bậc lương thần, để rồi sau đó là dùng Mạc Đôn Nhượng – một con người thiếu bản lĩnh, nhu nhược – làm phụ chính...

Nhiều trọng thần kể cả văn và võ muốn cáo quan về hưu, Mạc Mậu Hợp phải buộc họ mới chịu ở lại. Quan Thái bảo Giáp Trưng từng khuyên Mạc Mậu Hợp “Trí túc bất nhục” (Biết đủ thì không nhục), song Mạc Mậu Hợp không nghe theo nên Giáp Trưng xin về. Mậu Hợp cố giữ lại, Giáp Trưng tâu: “Tiên Hoàng thường xử: Niên túi tiện quy” và Mạc Mậu Hợp không thể lưu được.

Đông Các học sỹ Nguyễn Văn Nhuận cũng có lần đã mạnh bạo tâu với Mậu Hợp: “Nếu mọi việc, việc gì cũng không cốt ở sự thực mà chỉ chuộng hư văn, hạ thần sợ rằng việc trong thiên hạ sẽ dồn tới số không hết thảy”

Vĩnh Khang (Đất Việt)
Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu