( Phần 1).
Tín
ngưỡng và tôn giáo về bản chất là mê tín. Đó là
niềm tin của con người vào những hiện tượng „siêu
nhiên” mà con người không thể sờ mó, quan sát được.
Ở một nhánh khác, niềm tin lại hướng đến những Đấng
tối cao, những vị thần, thánh mà người ta coi là
„thiêng liêng” và „bất diệt”, có khả năng phù hộ,
độ trì cho con người. Niềm tin là bản chất của con
người, nó ra đời và tồn tại, phát triển cùng với
loài người. Niềm tin là một bộ phận không thể thiếu
trong đời sống của con người, cũng giống như đời
sống vật chất, đời sống tinh thần. Do vậy, niềm tin
hay mê tín trong tín ngưỡng và tôn giáo còn được gọi
là đời sống tâm linh của con người.
Từ
khi con người biết sống theo tổ chức cộng đồng, mê
tín đã hình thành. Khi đó cuộc sống hoang dã làm con
người luôn sợ hãi trước những bầy thú dữ và những
thay đổi bất thường của thiên nhiên. Với thú dữ,
những con vật có thể nhìn thấy bằng mắt, con người
sẵn sàng tự vệ cho dù nhiều khi cuộc đấu không cân
sức. Nhưng với thiên nhiên, sức mạnh ghê gớm từ đâu
đó ập đến làm cho con người mất khả năng chống trả.
Từ đó, người ta cho rằng đã có những thần linh hoặc
ác quỷ với sức mạnh vô biên mang những tai họa đến
cho họ. Chính vi vậy, khi cộng đồng loài người phát
triển thành bộ lạc, mặc dù còn sống theo kiểu du thủ,
du mục nhưng họ đã làm những buổi lễ tế thần linh,
mong được tai qua nạn khỏi, mưa thuận, gió hòa. Do mê
tín, loài người quỳ phục trước thần linh để mong
được phù hộ.
Khi
xã hội loài người phát triển cao hơn, một số niềm
tin (mê tín) đã tồn tại thành hệ thống, con người
cũng tìm cách giải thích nguyên nhân dẫn đến sự tin
tưởng để mang đến sự bình yên lâu dài cho bản thân
và cho mọi người. Những giải thích này thường chỉ
chú trọng đến tạo dựng lòng tin tuyệt đối cho con
người không dựa trên những bằng chứng vững vàng hay
kiến thức khoa học. Điều đó dẫn đến sự ra đời
của tín ngưỡng. Do phát sinh trong một bộ phận xã hội
và sự giao lưu hạn chế của loài người trong những
thời gian trước đây, tín ngưỡng thường mang tính dân
tộc, dân gian.
Tín
ngưỡng mang đến cho con người đức tin một cách hệ
thống. Con người có được đức tin sẽ cảm thấy hạnh
phúc và ở một mức độ nào đó đức tin giúp họ vượt
qua những dằn vặt khổ đau, sợ hãi, thậm chí qua khỏi
những căn bệnh hiểm nghèo. Một điều cần đáng nói ở
đây là nhiều người cứ lầm tưởng mê tín và tín
ngưỡng là hai phạm trù khác nhau, rằng tín ngưỡng mới
là văn minh, mới là có ích cho đời sống của con người
còn mê tín là lạc hậu và không mang lại những điều
tốt đẹp. Vậy nên, người ta phê phán mê tín và bênh
vực tín ngưỡng, trong khi cả hai đều xuất phát từ đức
tin của con người mà nếu xét từ góc độ khoa học là
những đức tin „viển vông” không có đảm bảo. Tính
triết lí của vấn đề này rất rộng và đòi hỏi
nghiên cứu rất sâu mới mong trả lời tương đối thỏa
đáng. Nhìn chung, mê tín đơn thuần và tín ngưỡng đã
mang lại đời sống tâm linh và xét ở khía cạnh nào đó
có ích cho loài người.
Tôn
giáo thực chất là Tín ngưỡng khi phát triển đến một
mức độ cao hơn. Tôn giáo khác tín ngưỡng ở chỗ đã
được các nhà triết học viết thành những đạo giáo
và được truyền bá khắp nơi. Tôn
giáo
hình thành và tồn tại trên cơ sở lý luận chặt chẽ
và có tính hệ thống cao. Trên cở sở đó, những người
đi theo và trung thành với tôn giáo (tín đồ) sẽ tu luyện
theo những quy định hay những triết lí mà tôn giáo đó
đưa ra. Nghi lễ trong tôn giáo cũng khác với nghi lễ
trong tín ngưỡng là được thực hiện mang tính bắt buộc
đối với tín đồ, được duy trì thường xuyên, cùng
với những quy định khác.
Phần
I: Tín ngưỡng
Tín
ngưỡng đa thần
Với
quan niệm cho rằng bất cứ vật gì cũng có linh hồn, nên
người xưa đã tôn thờ rất nhiều thần linh liên quan
đến các hiện tượng xảy ra trong thiên nhiên như nắng,
mưa, gió, bão, sấm, sét …Bên cạnh đó là những thần
linh tồn tại trong những sự vật liên quan đến nông
nghiệp như trời, trăng, đất, núi, rừng, sông, biển…Kể
cả những con vật nhiều khi cũng được tôn thờ như
những vị thần. Hầu như tất cả các dân tộc trên thế
giới đều có phong tục thờ cúng thần linh. Các học giả
gọi đây là tín ngưỡng đa thần.
Người
Việt có những câu châm ngôn: „Đất có Thổ Công, sông
có Hà Bá” hay „Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”.
Từ đó, cảm thấy yên tâm khi bày tỏ những lời lễ tạ
và hy vọng được phù hộ độ trì khi tỏ lời cầu xin
các vị thánh thần. Người ta lập ra các miếu, đền,
phủ, là những chỗ tôn nghiêm tế lễ các vị thần đó.
Các nghi lễ tín ngưỡng được tổ chức chu đáo, thậm
chí là cực kì chu đáo ở bất kì đâu và bất kì lúc
nào. Những lão làng, người dân hay quan chức được giao
việc tổ chức lễ, hội đều cố gắng làm thật tốt
những việc được giao. Người ta luôn nghĩ phải thực
tâm, thực tin mới có thể mong được thần thánh phù hộ.
Tín ngưỡng đa thần của người Việt rất phong phú,
phần lớn bắt nguồn từ mê tín của người Việt, một
số khác được đưa từ nước ngoài đến, chủ yếu là
từ Trung Quốc rồi được lai tạp hóa trở thành tín
ngưỡng của người Việt.
Có
rất nhiều thần linh liên quan đến Thiên nhiên. Một số
Thần chỉ được gọi tên và được người ta kể cho
con cháu nghe như những huyền thoại như thần Sấm, thần
Sét, thần Mưa, thần Gió vv…Những Thần liên quan đến
các sự vật và địa chí như: Thần Sông (Hà Bá), thần
Núi, thần suối, thần Biển, thần Đất (Thổ Công, Thổ
Địa), Táo Quân (Thần Bếp) vv…được cúng trong các
miếu, đền hoặc trên ban thờ đặt trong nhà hay ngoài
sân. Các thần linh mang đến vận may được thờ cúng
thường xuyên thậm chí hàng ngày:
Thần
Phúc, Lộc, Thọ (Còn gọi là Thần Tam Đa): Ông Phúc mang
đến sự may mắn, tốt lành. Ông Lộc mang đến sự giàu
có, thịnh vượng. Ông Thọ mang đến sự sống lâu,
trường niên, bất lão.
Thần
Tài: Giúp người làm ăn may mắn, phát đạt. Thần Tài
thường được cúng trong nhà cùng với Thần Thổ Địa.
Môn
Quan: Thần giữ cửa. Các Thần Môn Quan và Tâm Đa thường
được cúng ở các đền, chùa.
Thần
Thành Hoàng làng: Thành hoàng cai quản và quyết định
họa phúc của một làng. Ngày xưa, không có làng nào ở
Việt Nam mà không có Thành Hoàng. Trong
các đình làng, ngoài
các các
vị thần linh, người
ta còn thờ cúng những
ông tổ làng nghề hoặc anh hùng dân tộc đã
được
phong Thánh. Mỗi năm dân làng tổ chức hội Đình để
tri ân, cũng là để cầu khấn các vị thánh thần phụ
hộ dân làng trong mọi công việc và đời sống.
Tam
phủ, Tứ phủ: Tam phủ là danh từ để chỉ ba vị Thánh
Mẫu: Mẫu Thượng Thiên (Bà Trời), Mẫu Thượng Ngàn
(Bà Chúa Thượng), Mẫu Thoải (Bà Nước). Tứ Phủ gồm
ba vị Mẫu trên cộng thêm Mẫu Địa Phủ (Bà Đất).
Các Mẫu cai quản những lĩnh vực quan trọng nhất trong
nông nghiệp. Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam cũng là một
tín ngưỡng giàu bản sắc dân tộc. Tín ngưỡng này lấy
việc thờ Thánh Mẫu (mẹ) làm thần tượng với các
quyền năng sinh sôi, bảo trì và che chở cho con người.
Những quan niệm về Thánh mẫu đều xuất phát từ thần
thoại, huyền thoại, truyện kể dân gian. Trong tín ngưỡng
thờ Mẫu, ngoài việc cầu xin Thánh Mẫu ban ơn, độ trì
còn có các sinh hoạt gọi là „lên đồng”. Đây là
ghi thức „giúp” người cầu xin được giao lưu trực
tiếp với các thần linh, các vị Thánh thông qua các ông
đồng, bà đồng (còn gọi là Cô, Cậu được các Thánh
hóa thân vào), nhằm trừ ma, phán bệnh, ban phúc, ban lộc.
Ngoài việc giao tiếp với thần linh, người tin vào tín
ngưỡng này còn quan niệm sau khi chết linh hồn người
chết vẫn theo dõi cuộc sống hàng ngày của họ. Vì vậy
khi lên đồng, linh hồn người chết có thể nhập vào
Đồng Cô, Đồng Cậu để nói chuyện với người thân,
yêu cầu người thân tiền bạc, nhà cửa, đồ dùng sinh
hoạt. Linh hồn cũng qua miệng Đồng Cô, Đồng Cậu cho
biết vận mệnh, tương lai của người thân trong gia
đình.
Tất
cả những hình thái tín ngưỡng liên quan đến Thánh,
Thần nói trên đều xuất phát từ quan niệm hay thói quen
của một bộ phận cộng đồng. Trong quá trình giao lưu,
những hình thái đó có thể được những bộ phận cộng
đồng khác chấp nhận và làm theo. Tập tục (hay thói
quen) này được nhóm người này chấp nhận nhưng có thể
không được nhóm người khác chấp nhận. Do vậy, tất
cả các hình thái tín ngưỡng cúng tế thánh thần đều
có tính chất địa phương.
Tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Một
tín ngưỡng được coi như tập quán lâu đời, phổ biến
nhất của người Việt và một số dân tộc khác là việc
thờ cúng tổ tiên và cúng giỗ những người đã mất. Ở
các gia đình người Việt, nhà nào cũng có bàn thờ tổ
tiên và việc cúng giỗ, ghi nhớ công ơn của các bậc
tiền nhân rất được coi trọng. Bên cạnh việc cúng giỗ
tổ tiên ở từng gia đình người ta còn thờ cúng tổ
tiên dòng họ trong các nhà thờ họ.
Tín
ngưỡng thờ cúng ông bà, tổ tiên được cho là quy tụ
hầu hết người Việt Nam. Bản tính người dân Việt vốn
thật thà, chất phác, vì thế niềm tin của người Việt
cũng đơn sơ và mộc mạc. Họ lưu giữ hình ảnh và ký
ức của những người thân quá cố bằng việc lập ra
cái bàn thờ tổ tiên trong mỗi gia đình. Bàn thờ tổ
tiên thường được đặt tại một nơi trang trọng nhất
trong ngôi nhà của mỗi gia đình người Việt và được
người Việt xem như một nơi linh thiêng, không thể thiếu
vắng trong gia đình. Bàn thờ tổ tiên cũng là nơi để
người sống duy trì mối liên lạc với những người
thân quá cố. Người ta tin rằng vong hồn người khuất
thường luôn ngự trên bàn thờ để gần gũi con cháu,
theo dõi con cháu trong công việc hàng ngày và giúp đỡ
con cháu trong từng trường hợp cần thiết. Người ta
cũng tin rằng người sống và người chết đều có những
nhu cầu sinh hoạt như nhau, người sống cần nhà ở, thì
người chết cũng cần một nơi cho linh hồn nương náu.
Vậy nên, người chết vẫn được người sống dành cho
những đặc quyền như khi còn sống vào những ngày lễ
trọng đại trong năm như ngày đầu năm mới (Tết), ngày
sinh, ngày mất (gọi là kỵ nhật hay ngày giỗ) vv… Khi
trong gia đình có những việc lớn, người Việt đều
không quên việc thắp vài nén hương gọi là cho ấm bàn
thờ tổ tiên. Trong việc cưới xin, khi con dâu mới, hoặc
con rể mới đến nhập gia, đều phải đến trước bàn
thờ làm lễ Gia tiên để ra mắt tổ tiên. Trước đây,
lễ Gia tiên là một thủ tục bắt buộc phải có trong
những đám cưới, gả của hầu hết những gia đình
người Việt.
Những
người theo Thiên Chúa giáo, tuy không lập bàn thờ tổ
tiên, nhưng không phải là không thờ cúng tố tiên. Những
ngày giỗ chạp họ vẫn làm cỗ và cầu nguyện cho người
thân đã khuất, và việc không có bàn thờ tổ tiên chỉ
là việc chuyển đổi bàn thờ tổ tiên đến bàn thờ
Chúa, như vậy nghĩa là vẫn có sự thờ cúng tổ tiên
quanh bàn thờ Chúa. Kể từ năm 1968, tòa Thánh Vatican cho
phép những người Công giáo thiết lập bàn thờ tố tiên
như mọi gia đình Việt Nam khác. Chỉ những người Theo
đạo Hồi là không thờ cúng những người đã chết.
Người Theo đạo Hồi chỉ thờ phượng duy nhất Đấng
Ala.
-
Phần II: Tôn giáo
Tôn
giáo cũng như Tín ngưỡng đều bắt nguồn từ mê tín.
Chính nhờ những đức tin sau khi đã được định hình
và tìm được vị trí vững chắc trong tâm hồn con người
mà tín ngưỡng và tôn giáo đã là những yếu tố đầu
tiên hướng cho con người sống vì đồng loại và xây
dựng cộng đồng loài người khác với các loài cầm
thú.
Mỗi
Tôn giáo đưa ra cách giải thích những bí hiểm xảy ra
trong vũ trụ, dẫn giải nguồn gốc và tương lai của
loài người theo triết lí của mình và đưa những tư
tưởng ấy đến với con người theo các cách khác nhau.
Tuy nhiên, các Tôn giáo cũng có những tư tưởng tín
ngưỡng gần giống nhau. Thí dụ đạo Phật nói rằng nếu
làm được như Phật dạy thì con người tự thoát khỏi
những khổ đau hoặc nếu chưa thoát khỏi khổ đau trong
hiện tại thì sẽ thoát khỏi khổ đau ở tương lai (kiếp
sau). Đạo Thiên chúa thì nói rằng nếu tin vào Chúa thì
bao giờ Chúa cũng ở bên cạnh mình, giúp mình thoát khỏi
những khổ đau, bệnh tật. Các tôn giáo khuyên con người
thành tâm tin và làm theo lời dạy bảo của Đấng tối
cao, cũng khuyên người ta luôn tự mình sám hối. Trong các
sách Phật và Kinh Thánh cũng nói rằng con người có thể
tự tu, không nhất thiết cứ phải đi đến chùa, nhiều
chùa hay nhiều nhà thờ mới là người ngoan đạo. Trong
cách hành đạo thì mỗi tôn giáo cũng đều có những
cách làm để con người được tiếp cận gần nhất với
Đấng tối cao. Thí dụ đạo Phật khuyên người ta đến
chùa lễ Phật, đạo Thiên chúa khuyên người ta đến nhà
thờ để cầu chúa, sám hối. Những nơi đó cũng giống
như đền, phủ là nơi không chỉ có không khí trang nghiêm
mà còn có thêm các nhà sư hay cha đạo hướng dẫn làm
nghi lễ. Vào chùa, vào nhà thờ, người ta còn được
tiếp xúc với cộng đồng có cùng tín ngưỡng, tạo thêm
niềm tin cho mình.
Tôn
chỉ hoạt động và những điều giáo huấn của các tôn
giáo đều có những ý tưởng gần giống nhau với mục
đích răn dạy cho mọi người tôn thờ Đấng tối cao của
mình, sống vì mọi người, tránh làm điều ác và hướng
thiện.
Số
lượng tín đồ của từng tôn giáo thay đổi theo từng
thời đại. Những tôn giáo lớn nhất trên thế giới
hiện nay được thống kê là: Thiên Chúa giáo, Ấn độ
giáo và Phật giáo. Tại Việt Nam, Ấn Độ giáo chưa phát
triển nên bài viết này chỉ tập trung phân tích về các
tôn giáo lớn: Thiên chúa giáo và Phật giáo.
Thiên
Chúa giáo:

Đức Chúa trời.
Thiên
chúa giáo là một nhóm các tôn giáo độc thần, coi Thiên
chúa (còn gọi là Chúa
Trời) là Đấng
tối cao, tạo thiên, lập địa, thông hiểu tất cả mọi
vật và chính ngài đã sáng tạo ra loài người.
Các tôn giáo này được coi là có nguồn gốc chung từ
Abraham, dựa trên truyền thuyết Thiên Chúa lập giao ước
với Abraham (Tổ phụ của dân Do Thái và Ả rập) tại
núi Sinai. Các
tôn giáo theo truyền thống Abraham bao gồm: Do Thái giáo,
Hồi giáo và Ki-tô giáo, có số lượng tín đồ chiếm
hơn một nửa dân số thế giới ngày nay.
Do
Thái giáo:
Do
Thái giáo là một trong những tôn giáo cổ xưa nhất, xuất
hiện từ khoảng năm 2000 TCN. Do Thái giáo xem niềm tin vào
sự „mặc khải” (những ý muốn của Thiên Chúa) và
chấp nhận kinh Torah là cốt lõi căn bản của đức tin.
Sách Torah (còn gọi là Ngũ thư Kinh thánh) trước đây có
tất cả 613 điều răn trong đó một số điều răn chỉ
được áp dụng cho nam giới hoặc nữ giới, một số
điều chỉ dành cho các thầy tế lễ, một số điều
dành riêng cho nông dân Israel vv…Ngày nay sách Torah hướng
dẫn người ta chỉ phải tuân theo 300 điều răn. Ngoài ra
một số đức tin cũng được hướng dẫn qua cách truyền
miệng từ đời này qua đời khác. Triết học Do Thái
giáo là sự kết hợp giữa các nghiên cứu triết học và
thần học Do Thái. Tôn giáo này trân trọng kinh Cựu ước
(còn gọi là kinh Tanakh) và tuân giữ các điều răn trong
đó. Các điều răn này thường gọi là 10 điều răn đạo
đức, đóng vai trò quan trọng nhất trong Do Thái giáo:
1.
Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, đã đưa
ngươi ra khỏi đất Ai Cập, khỏi cảnh nô lệ.
2.
Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với
ta.
3.
Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật
gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp, hoặc ở
trong nước phía dưới mặt đất để mà thờ.
4.
Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà
phụng thờ: vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, là
một vị thần ghen tuông. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta
phạt con cháu đến ba bốn đời vì tội lỗi của cha
ông.
5.
Còn với những ai yêu mến Ta và giữ các mệnh lệnh của
Ta, thì Ta trọn niềm nhân nghĩa đến ngàn đời.
6.
Ngươi không được dùng danh Đức Chúa, Thiên Chúa của
ngươi, một cách bất xứng, vì Đức Chúa không dung tha
kẻ dùng danh Người một cách bất xứng.
7.
Ngươi hãy nhớ ngày Sa-bát, mà coi đó là ngày thánh.
Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc
của ngươi. Còn ngày thứ bảy là ngày Sa-bát kính Đức
Chúa, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó, ngươi không được
làm công việc nào, cả ngươi cũng như con trai con gái,
tôi tớ nam nữ, gia súc và ngoại kiều ở trong thành của
ngươi. Vì trong sáu ngày, Đức Chúa đã dựng nên trời
đất, biển khơi, và muôn loài trong đó, nhưng Người đã
nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy, Đức Chúa đã chúc phúc
cho ngày Sa-bát và coi đó là ngày Thánh.
8.
Ngươi hãy tôn kính cha mẹ, để được sống lâu trên
đất mà Thiên Chúa của ngươi ban cho ngươi.
9.
Ngươi không được giết người.
10.
Ngươi không được ngoại tình. Ngươi không được trộm
cắp. Ngươi không được làm chứng gian hại người.
Ngươi không được ham muốn nhà người ta, ngươi không
được ham muốn vợ người ta, tôi tớ nam nữ, con bò con
lừa, hay bất cứ vật gì của người ta.
2.
Ki-tô
giáo:
Ki-tô
giáo xuất hiện vào thế kỉ thứ 1, như là một phiên
bản cải cách của Do Thái giáo. Tôn giáo này mau chóng
truyền đến Hi lạp, La-mã và sau đó đến các nước
châu Âu khác, châu Á, châu Mỹ và các nơi trên thế giới.
Trải qua nhiều thế kỉ, Ki-tô giáo tự chia cắt thành
nhiều Giáo hội và Giáo phái khác nhau do có
sự bất đồng về đức tin và quyền bính. Một số nhóm
ly khai, một số nhóm tách ra thành các tôn giáo mang tên
mới. Hiện nay, 4 tôn giáo lớn nhất, có chung nguồn gốc
là Ki-tô giáo bao gồm: Công giáo, Chính thống giáo, Tin
lành và Anh giáo.
-
Đạo Công Giáo (còn gọi là Công giáo La-mã) tôn thờ
Thiên Chúa Ba Ngôi cùng một bản thể (substance)
và uy quyền như nhau. Giáo Hội Công Giáo nhìn nhận Đức
Giáo Hoàng (Pope)
là vị Đại diện duy nhất của Chúa Giê-su trên trần
thế trong sứ mệnh cai quản Giáo Hội Công Giáo.
-
Chính thống giáo (Prawosławie, còn gọi là Ki-tô giáo Đông
phương), là một nhánh Ki-tô giáo được tách ra khỏi
hiệp thông với Giáo hội Công giáo La-mã từ năm 1054 vì
một số bất đồng về đức tin, phụng sự và quyền
bính. Giáo hội Chính thống không công nhận vai trò lãnh
đạo giáo hội của Đức giáo hoàng ở tòa thánh
Va-ti-can.
-
Tin lành là nhánh Ki-tô giáo đã tách ra khỏi Giáo hội
Công giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo do Martin
Luther (linh mục Dòng thánh Augustino) chủ xướng vào năm
1517 tại Đức và lan sang Pháp (John Calvin) và Thụy sỹ
(Ulrich Zwingli), sau đó là bắc Âu, bắc Mỹ và nhiều nơi
khác.
-
Anh Giáo là tôn giáo được tách ra từ Công giáo Rome,
khởi đầu với những mục tiêu chính trị của vua nước
Anh là Henry VIII. Nhà vua lúc đó muốn hủy hôn nhân với
vợ là Catherine của Aragon (mà Giáo hội Công giáo Rome
không cho phép) để kết hôn chính thức với Anne Boleyn.
Lí do là hoàng hậu đương thời không có hoàng tử để
thừa kế ngai vàng. Khi được tách ra, nhà vua Anh là người
đứng đầu Giáo hội.
Đạo
hữu Ki-tô giáo tin rằng Đấng Giê-su, con của Thiên Chúa,
đã trải qua những đau khổ và bị cám dỗ như con người
bình thường nhưng không hề phạm tội. Thiên Chúa đã
cho Chúa Giê-su sống lại từ cõi chết, đặt Chúa ngồi
bên hữu của Chúa Cha để tế trị và cứu rỗi nhân
loại. Trọng tâm của đức tin Ki-tô giáo là qua sự chết
và phục sinh của Giê-su, con người tội lỗi được phục
hòa với Thiên Chúa, nhờ đó mà nhận lãnh sự cứu rỗi
và lời hứa được hưởng sự sống muôn đời.
Ki-tô
giáo nguyên thủy có năm điều răn để nhắc những người
có đức tin với Chúa chu toàn bổn phận, thờ phượng
Thiên Chúa và góp công sức xây dựng Hội Thánh:
1.
Tham dự Thánh lễ Chúa nhật cũng như các ngày lễ quy
định, kiêng việc xác và những hoạt động có thể cản
trở việc thánh trong các ngày đó.
2.
Xưng tội và sám hối thường xuyên, ít nhất là mỗi năm
một lần.
3.
Rước lễ ít nhất một lần trong mùa Phục sinh.
4.
Giữ chay và kiêng ăn thịt trong những ngày Hội Thánh
(trong đó có ngày thứ 6 hàng tuần).
5.
Theo khả năng của mỗi người cần đóng góp cho các nhu
cầu vật chất cho Hội Thánh.
Trong
cuộc sống thường ngày, Ki-tô giáo đưa ra 10 điều răn,
cũng gọi là 10 điều răn đạo đức giúp con chiên thoát
khỏi nô lệ tội lỗi và tôn
thờ Chúa với niềm cung kính và quy phục tuyệt đối.
Thờ
phượng một Đức Chúa Trời và kính mến người
trên hết: Mọi sự tin tưởng, yêu mến và hy vọng vào
Thiên Chúa là Cha của mình và đặt Người ở vị trí
tối thượng trong cuộc sống của mình..
Chớ
kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ: Tuyên
xưng Danh Chúa, chỉ nói đến Danh Chúa để chúc tụng,
ngợi khen. Không được dùng Danh Chúa một cách bất
kính. Khi
bắt đầu ngày sống, khi gặp cơn cám dỗ, gặp nguy khó
thì làm dấu Thánh kêu cầu Chúa.
Giữ
ngày Chúa Nhật: Chúa Nhật (Chủ nhật) là ngày dành
riêng để tôn thờ Thiên Chúa (ngày mừng kính Đức
Giêsu sống lại từ cõi chết) và nghỉ ngơi để chăm
lo phát triển nhân cách, đời sống gia đình và xã hội.
Thảo
kính cha mẹ: Phải
tôn kính, yêu mến, biết ơn cha mẹ, ông bà, tổ tiên;
Vì kính chúa mà phụng
dưỡng cha mẹ lúc già yếu, nâng đỡ tinh thần cha mẹ
lúc ốm đau, cô đơn.
Chớ
giết người: Cố
ý
giết người trực tiếp và gián tiếp (kể cả phá thai)
đều là những tội thật nặng nề. Chúa dạy tha thứ,
yêu thương cả kẻ thù (trừ
trường hợp tự vệ chính đáng để bảo vệ sự sống
của chính mình).
Chớ
làm sự dâm dục: Quy định những lỗi phạm đạo đức
bao gồm: Thủ dâm, thông dâm, khiêu dâm, mãi dâm, cưỡng
hiếp và đồng tính luyến ái.
Chớ
lấy của người: Quy định những điều cấm trộm cắp,
chiếm đoạt tài sản của người khác, đầu cơ, hối
lộ, cờ bạc, cá độ.
Chớ
làm chứng dối: Cấm nói
dối, nói xấu, nói hành, nói oan, nói hay làm hạ
danh giá người khác, làm chứng gian , thề gian, lỗi lời
thề.
Chớ
muốn vợ chồng người: Cấm ngoại tình, thèm muốn xác
thịt.
Chớ
tham của người: Bị trọng tội khi có
ý muốn hoặc tìm
cách chiếm đoạt của cải của người khác.
Hồi
giáo:
Hồi
giáo xuất hiện vào thế kỉ thứ 6. Đây không phải là
một nhánh ly khai từ Do Thái giáo hay Ki-tô giáo. Hồi giáo
tự cho mình là tiếp nối và thay thế cho hai tôn giáo nói
trên. Hồi giáo tôn thờ Thiên Chúa, mà họ gọi là Đấng
Ala (Allah), là đấng tạo hóa, đấng phán xét của mọi
sự sống, là duy nhất và có tất cả sự từ bi và toàn
năng. Đấng Ala hiện hữu khắp nơi, rất mực độ lượng
và khoan dung. Hồi giáo tôn thờ Muhammad, vị Thiên sứ
cuối cùng được Đấng Ala trao quyền mang kinh Koran
(Quran) đến rao giảng cho các tín đồ.
Trong
kinh Koran của đạo Hồi cũng có mười điều răn đạo
đức:
Chỉ tôn
thờ một Thiên Chúa (tiếng Á Rập là Allah).
Vinh danh
và kính trọng cha mẹ.
Tôn trọng
quyền của người khác.
Hãy bố
thí rộng rãi cho người nghèo.
Cấm giết
người, ngoại trừ trường hợp đặc biệt (*).
Cấm
ngoại tình.
Hãy bảo
vệ và chu cấp trẻ mồ côi.
Hãy cư
xử công bằng với mọi người.
Hãy trong
sạch trong tình cảm và tinh thần.
Hãy khiêm
tốn
(*)
Trường hợp đặc biệt được phép giết người mà
không bị trọng tội là:
1)
Trong khi kháng cự hoặc chiến đấu chống lại những kẻ
lùng giết người đạo mình nhằm cưỡng bách bỏ đạo.
Nhưng nếu chiến thắng, phải noi gương thiên sứ
Muhammad, tha thứ và đối xử nhân đạo với phần đông
kẻ bại trận.
2)
Giết những tên sát nhân để trừ hại cho dân lành.
Ngoài
ra tín đồ Hồi giáo có một số luật lệ:
Một lần
trong đời, họ phải hành hương về thánh địa Mecca,
nhưng với điều kiện họ không vay mượn hay xin phí
tổn. Trước khi đi, họ phải lo cho gia đình vợ con đầy
đủ những nhu cầu cần thiết trong thời gian họ vắng
mặt hành hương.
Nghiêm
cấm ăn máu, thịt con vật đã chết trước khi được
cắt tiết theo nghi thức; không được ăn thịt lợn
vì lợn là
con vật ô uế.
Nghiêm
cấm uống rượu và
các thức uống lên men.
Nghiêm
cấm cờ bạc.
Nghiêm
cấm gian dâm và trai gái quan hệ xác thịt trước khi
cưới hỏi.
Nghiêm
cấm ăn những con vật ăn thịt sống hay ăn tạp
(như chó,
mèo, chuột v.v.).
Người
Hồi giáo chỉ được ăn thịt đã được giết mổ theo
nghi thức của đạo Hồi. Tuy nhiên, trong trường hợp
tuyệt đối không có gì ăn, họ được ăn mọi thứ để
duy trì sự sống.
Hàng năm
phải thực hiện tháng ăn chay
Ramadan để
tưởng nhớ và biết thương xót người nghèo. Tính theo
lịch mặt
Trăng,trong tháng này, khi còn ánh sáng mặt
Trời, không được ăn và uống, đến đêm thì mới ăn.
Cũng trong tháng này, con người phải tha thứ và sám hối,
vợ chồng không được gần nhau vào ban ngày nhưng ban
đêm vẫn có thể ân ái với nhau. Trẻ em và phụ nữ có
thai không phải thực hiện Ramadan.
Hồi giáo
nghiêm cấm kỳ thị chủng tộc và tôn giáo, tín đồ
Hồi giáo không được phép chỉ trích cũng như phán xét
người khác. Đó là việc của Allah
- Đấng Toàn
Năng.(Còn
nữa)
Xuân
Nguyên