Lời BBT: Trung tá TS Stanisław Śledź, hội viên Hội hữu nghị Ba Lan- Việt Nam, nguyên trưởng đoàn Ba Lan trong Ủy ban kiểm soát và Giám sát quốc tế tại Việt Nam (sau hiệp định Giơ-ne-vơ) đã có thời gian gần một năm làm việc ở Việt Nam. Với nhiệm vụ kiểm tra và giám sát các hoạt động quân sự nhằm đảm bảo thi hành đúng đắn những điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ về Việt Nam, ông đã có mặt tại nhiều nơi trên đât nước ta suốt từ Bắc đến Nam. Những cảm xúc hàng ngày qua những hoạt động quân sự nhằm gìn giữ hòa bình và những ấn tượng về đất nước, con người Việt nam ở cả hai miền Nam, Bắc đã được ông viết lại trong những trang nhật ký. Ý tưởng của ông chỉ là để lưu lại những kỷ niệm của một thời sống và làm việc tại một đất nước nhiệt đới xa xôi, dành cho vợ, các con gái và các cháu của mình. Tuy nhiên, do đề nghị của tòa soạn báo Quê Việt, ông đã tặng cho báo những ghi chép riêng này. Nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12) chúng tôi xin trân trọng gửi đến bạn đọc một vài trích đoạn của cuốn nhật ký nói trên, qua đó chúng ta hiểu thêm được cách nhìn và đánh giá của „người nước ngoài” về cuộc chiến chống Mỹ tại Việt Nam.

Năm 1965Sau khi trở về Sài Gòn từ Vũng Tàu, tôi nhận nhiệm vụ mới. Tôi được giao nhiệm vụ nhóm trưởng Nhóm số 76 tại Gio Linh, trong vùng phi quân sự thuộc vĩ tuyến 17.
Tôi làm quen với những tài liệu liên quan tới nhóm này. Từ đó cho thấy rằng, dọc theo vĩ tuyến 17 là dòng sông Bến Hải. Vành đai khoảng 2 đến 5 km phía bắc và phía nam của con sông chính là khu phi quân sự và đồng thời là đường biên tạm thời chia đôi đất nước Việt Nam thành hai miền Bắc và Nam.
Theo những điều khoản trong hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, tất cả những lực lượng quân sự và vũ khí phải rút khỏi khu phi quân sự, chỉ một số người được giao trách nhiệm mới được ở lại đây (được trang bị vũ khí) để kiểm soát và giám sát. Những người được cử đến vùng đệm này có trách nhiệm không để xảy ra những mầm mống chiến tranh. Nhằm mục đích đó, hai nhóm cơ động của Ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế tại Việt nam đã được giao nhiệm vụ như là tai mắt của Ủy ban. Thành phần của hai nhóm này là người Ba Lan cùng với Ấn Độ và Ca-na-đa. Cả hai nhóm đều ở trong làng nhỏ có tên là Gio Linh, một nhóm có trách nhiệm kiểm tra phần phía Nam, còn nhóm kia đi qua cầu Hiền Lương đến bờ bên kia và kiểm tra phía Bắc của khu phi quân sự (chiều rộng khoảng 150 m).
Từ 16 tháng 2 đến 20 tháng 3 năm 1965 16 tháng 2Được đánh thức vào lúc 6h00, sau đó ăn sáng và khoảng 7h30 thì đi ra sân bay. Tôi bay từ Sài Gòn ra Huế bằng máy bay của hàng không Nam Việt nam. Tôi có chỗ ngồi bên cạnh cửa sổ. Ngồi bên cạnh tôi là một người lính Việt nam, một lính dù nói được tiếng Anh. Câu chuyện xoay quanh chủ đề công việc của Ủy ban quốc tế và huấn luyện lính nhảy dù. Thời tiết đẹp. Chúng tôi bay ở độ cao 1000 m và vì vậy có thể quan sát rất rõ phong cảnh. Bên dưới chúng tôi là những thảm lúa xen kẽ những dãy núi được phủ cây cối rậm rạp và những khu rừng không mấy thân thiện. Không nhìn thấy những linh hồn sống. Thỉnh thoảng giữa những mầu xanh liên tiếp lại nhô ra một dòng sông êm đềm hoặc một đỉnh núi bị cày sới. Người khách đi cùng tôi đã cho biết vùng này gần như bị Việt Cộng (có nghĩa là những người cộng sản Việt nam) kiểm soát.
Sau hai giờ bay chúng tôi đã đến gần Huế. Tại nơi mà cách đây không lâu là kinh đô của Việt Nam, tôi nhìn thấy giữa những vạt lúa mênh mông, hàng nghìn mô đất, đó là những ngôi mộ của những người đã chết. Dưới cánh máy bay bắt đầu lộ ra những mái ngói của những ngôi chùa, màu xanh của cây cối cũng đập vào mắt tôi. Máy bay hạ cánh an toàn. Tôi ra khỏi máy bay, chia tay với người lính dù, chào thiếu tá Czesław Machera, người mà tôi sẽ thay thế. Sau khi truyền đạt nhiệm vụ và thông báo những tin tức mới nhất từ Sài Gòn, chúng tôi chia tay nhau. Tôi lên chiếc xe Zíp đi về trụ sở của Nhóm ở Gio Linh, khoảng 100 km về phía bắc.
Chúng tôi đi qua thành phố đã già nua và buồn thảm bởi đã mất đi những vẻ đẹp của kinh thành, nơi mà các nhà sử học đã ca ngợi. Những “ngôi chùa thờ Phật” một thời lộng lẫy đã bị phá hủy phần nào. Cảnh tượng giống như Cytadela của Vac-sa-va. Trước khi ra khỏi thành phố có thêm một người lính và hai dân thường lên xe, đó là những người bảo vệ cho tôi.
Chào đón chúng tôi trên các đoạn đường khi vào làng hay qua cầu là những toán lính của quân đội miền Nam Việt Nam. Bao quanh làng là những chướng ngại vật, những hàng rào dây thép gai và những bao cát. Trước khi vào làng, các xe ô tô bị chặn lại và kiểm tra. Sau khi kiểm tra giấy tờ tùy thân, những vật cản được kéo sang bên cạnh cho xe đi qua. Cách làm này nhằm ngăn chặn các xe “gài bom” của Việt Cộng (VC) vào làng (VC tức là các chiến sỹ của lực lượng Giải phóng Dân tộc thuộc “Chính phủ Lâm thời miền Nam Việt Nam”). Con đường chúng tôi đi qua rất nhiều làng mạc, Những mái nhà tranh lợp bằng rơm rạ toát lên cảnh nghèo. Trước nhà là những cây cọ và chuối. Trên các con đường, những con trâu đi ngang qua, trên lưng chúng là những cậu bé, đôi khi là những con chim. Những người nông dân nam giới thì mặc quần trắng áo dài đen (giống như các cha cố Do Thái ở Ba Lan mặc trong thời kì trước chiến tranh), trên đầu giương những chiếc ô màu đen. Phụ nữ đi làm với trang phục quần đen và áo cánh, trên đầu đội mũ rộng (nón –ND). Đa số những người làm việc trên đồng là phụ nữ. Một số người dầm nhỏ những tảng đất bằng những cái vồ bằng gỗ, một công việc khá nặng nhọc dưới ánh nắng gay gắt của mặt trời.
Những vùng giữa các làng bị Việt Cộng kiểm soát, điều đó có thể dễ thấy bởi những đường dây điện và điện thoại bị phá hủy. Chúng tôi đến tỉnh lỵ Quảng Trị không gặp trở ngại gì và sau ba tiếng đồng hồ tôi đã có mặt ở Gio Linh. Đón tôi tại đây có thiếu tá Jerzy Skikiewicz (rất tình cờ - một người cùng cơ quan ở Vac-sa-va) và những người phiên dịch B. Nowak, W. Jamoliński. Sau đó trung tá J.B.Irani (Ấn Độ), thiếu tá M.S. Sandhu (Ấn Độ) và Trung tá R. Babineau, thiếu tá L.S. Tucker (cả hai là người Canada) cũng đến chào tôi.
2 tháng baHôm nay chúng tôi có “ngày lễ” của Nhóm, đó là ngày được nghỉ việc. Tôi có thời gian để viết thư về nước, đọc báo, chơi bài brydż, bóng chuyền và làm nhiều việc khác cho bản thân.
Sau bữa ăn sáng Trung tá J.B. Irani và phiên dịch viên W. Jamoliński chia tay chúng tôi. Khi chia tay, trung tá Irani ôm chặt tôi và hôn tôi hai lần. Tôi thật sự cảm động về những cử chỉ thân thiện này. Rõ ràng là ông ấy rất quý tôi. Khoảng 11h00 chúng tôi bắt đầu chơi bài và trong thời gian này, vào lúc 13h00 chúng tôi nghe thấy 2 tiếng nổ to bên phía bắc sông Bến Hải, có nghĩa là trên lãnh thổ của Bắc Việt nam. Chúng tôi nói với nhau “đã bắt đầu đánh bom miền Bắc rồi”.
Vào lúc 15h30 chúng tôi nghe thấy tiến vo vo của máy bay. Mọi người đồng loạt chạy ra ngoài nhà. Trên bầu trời những chiếc máy bay ném bom “Delta” đan chéo nhau, bay trên các độ cao 200 m, 500 m hoặc cao hơn, tiến về phía bắc. Trên thân máy may có thể nhìn thấy rõ kí hiệu – ngôi sao màu trắng. Những chiếc máy bay bay ngay trên đầu chúng tôi, có thể đếm được 24 chiếc. Mười mấy giây đồng hồ sau đó, cửa kính của các cửa sổ và mặt đất rung lên. Chúng tôi nghe thấy những tiếng nổ dữ dội. Chúng tôi trèo lên mái nhà và quan sát suốt cả tiếng đồng hồ những trận bom dội xuống phía bên kia con sông. Phía chân trời có thể thấy rõ những đám cháy và những cột khói đậm. Chúng tôi lo sợ với tình hình này. Một số binh lính miền Nam khi quan sát những trận ném bom nói rằng đó là việc đáng làm đối với miền Bắc, những người khác đặc biệt là những người lớn tuổi thì khóc. Tôi nghĩ rằng họ đang nghĩ tới những người thân, thậm chí những người ruột thịt của họ đang bị giết hại. Mặt đất không ngừng rung lên, máy bay oanh tạc không hề bị phản cự. Lạy chúa, điều gì lại xảy xa trên thế giới này đây. Người này giết người khác. Tôi cảm thương cho những người nghèo khổ đang bị giết hại hàng loạt trong khi không ai nói với họ là có chiến tranh. Ai sẽ giúp đỡ họ đây? Những lời phản đối của chúng tôi không đảm bảo cho sự an ninh. Tôi rât bức xúc, đã từng chứng kiến những trận oanh tạc vào mùa xuân năm 1945, tôi hiểu con người cảm nhận gì trong tiếng bom. Phản ứng của tôi trước tình hình hiện tại là đề nghị chủ tịch Nhóm, ngài K.K. Narayna (Ấn Độ) và đoàn Canada, thiếu tá A.D. Sassona phải ngay lập tức gửi điện tín về bộ tham mưu của Ủy ban Quốc tế tại Sài Gòn về việc 24 máy bay ném bom mang nhãn hiệu Mỹ đã vi phạm vùng phi quân sự và chúng tôi đã nghe thấy những tiếng nổ dữ dội cũng như nhìn thấy những đám khói lớn ở bên kia bờ sông Bến Hải. Điện tín được gửi đi lúc 17h00, tức là sau cuộc ném bom kéo dài một tiếng rưỡi đồng hồ. Sau đó vào lúc 17h30 đài phát thanh của Oasinhton chính thức báo tin không quân Mỹ đã oanh tạc cảng biển của Bắc Việt nam.
Vào lúc 18h30, theo kế hoạch, chúng tôi qua bờ bắc để dự tiệc koktai. Đón chúng tôi là sỹ quan liên lạc – thiếu tá Trần Văn Đức và phiên dịch viên Đoàn Tuế, họ rất buồn. Ngài thiếu tá chỉ cho chúng tôi biết vùng gần đó bị máy bay Mỹ ném bom và bắn tên lửa. Thiệt hại rất lớn nhưng chưa xác định được cụ thể. Một điều rất tồi tệ. Thiếu tá cũng khẳng định rằng đã có 7 máy bay bị bắn rơi. Thật khó tin đối với chúng tôi bởi vì chúng tôi biết rất rõ rằng họ không có các phương tiện để chống lại các máy bay kiểu đó. Có điều gì đó mang tính chất ngoại giao.
Sau khi nghe trình bày, chủ tịch Nhóm đã chia buồn về những gì xảy xa, chúng tôi từ bỏ tiệc koktai và trở về bờ Nam. Trời đã tối. Những ngôi làng “Tân Sinh” – theo cách gọi của chính quyền Nam Việt Nam, nơi chúng tôi đi qua đều chặn chúng tôi lại. Sau khi kiểm soát, thấy chúng tôi là người của Ủy ban Quốc tế họ cho qua, rất may mắn, chúng tôi trở về đến trụ sở của mình an toàn trong bóng tối vì các bóng đèn trên đường đã bị tắt hết. Chủ tịch tổ chức một tiệc “uống”, và bên những cốc whisky cùng với vodka “wyborowa” của Ba Lan chúng tôi bình luận về những sự kiện xảy ra trong ngày. Vào lúc 23h00 điện bị cắt. Trước khi thiếp đi, tôi nghĩ về những gì sẽ xảy ra vào ngày mai.
(còn nữa)
Đào Công Ngoạn (dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)