Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Bình thường mà đáng kính

05/06/2009 11 phút đọc Trà Lý
ông Đỗ Văn ThườngCuộc sống là một quá trình vận động không ngừng. Chẳng ai biết trước mọi điều, rằng ngày mai rồi
Bình thường mà đáng kính
Bác sỹ - Thường
ông Đỗ Văn Thường

Cuộc sống là một quá trình vận động không ngừng. Chẳng ai biết trước mọi điều, rằng ngày mai rồi sẽ ra sao. Đó là cái vô hình để con người luôn muốn khám phá, phấn đấu, mạo hiểm, hy vọng về một tương lai tốt lành. Mỗi người lại có số phận riêng, chẳng ai giống ai. Chính cái đa dạng, phong phú, muôn hình muôn vẻ của cuộc sống làm chúng ta thêm tò mò, muốn tìm ra cái mới, cái hay, cái dở khi hoàn cảnh thay đổi. Chính lúc đó ta lại thấy mình còn cần cho cuộc sống, còn có ích cho đời. Lại cũng có những cái rất gần ta, rất bình thường bên ta, rất cần thiết cho ta mà chúng ta xem nhẹ, thậm chí coi thường. Cái bình thường ấy mới là cái bền vững, cái ổn định để phát triển, nó là gốc của bất cứ cái gì tốt đẹp cho tương lai. Sống trong hạnh phúc, bình an hay đúng hơn đang sống bình thường với tất cả những gì đang có – chính là giá trị lờn nhất mà trước đây ta đã từng mong muốn, phấn đâu. Có lẽ tôi cũng là một trong số những người chưa trân trọng đúng mức cái bình thường mà mình đang được hưởng, đang có bên cạnh.

Tôi quen gia đình ông cách đây đã trên 20 năm, từ những ngày cuộc sống khó khăn ở Việt Nam những năm 80 của thế kỷ trước qua mấy lần đi nhận quà từ Ba Lan gửi về trên các chuyến tầu thủy ở Hải phòng. Gia đình ông là gia đình viên chức tri thức, hưởng lương nhà nước theo tiêu chuẩn. Cách phấn đấu một thời của những người như ông là làm tốt về chuyên môn và bảo đảm cho con cái được học giỏi để có cơ hội đi du học nước ngoài. Đi công tác nước ngoài, có con du học nước ngoài là động lực phấn đấu không mệt mỏi, bằng mọi cách, nếu đạt được đó là một diễm phúc lớn lao, là tương lai, là hy vọng của gia đình, là niềm tự hào, là uy tín và nhiều thứ nữa được gắn cả vào cho nó. Thế nhưng khó khăn trước mắt của cuộc sống làm con người phải tạm gác lại, hay phải dành một phần công sức, thời gian cho mưu sinh. Dù phải học tập, nghiên cứu, chẳng ai giao nhiệm vụ, mà hầu như tất cả lưu học sinh (sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh) đều phải tiết kiệm tối đa, mua hàng hóa gửi về Việt Nam giúp đỡ gia đình. Để có thể giảm chi phí Lưu học sinh ở Ba Lan những năm 80 thường gửi hàng qua các chuyến tầu thủy từ Việt Nam sang Ba Lan lấy hàng. Đó là những chiếc áo môngtơ ghi sợi ni lông (một thời rất mốt), khăn von, vải xi mi li, lụa đen, TV Neptun, quạt bàn thậm chí cả đường, mì chính, xà phòng và sau này là đặc sản – thuốc tây… Tất cả tùy thuộc vào điều kiện khách quan và chủ quan của từng đợt. Lưu học sinh phải đi tầu hỏa xuống tận Gdynia, phải đi vào đêm là chủ yếu để có thể lên được tầu Việt Nam  đậu trong cảng (cũng phải „hối lộ” người gác cổng phong sô-cô-la hoặc cái gì đó nhưng trên hết đó là sự cảm thông và thương tình). Gia đình ở Việt Nam khi được tin có quà là tất tưởi nhanh chóng xuống Hải phòng để nhận. Mọi người phải thuê ca nô, xuồng máy ra tận phao zero để lấy quà. Cũng chỉ mong không phải trả thuế và nhận hàng cho đủ. Khó khăn của các cuộc phiêu lưu mỗi lần cũng mỗi khác, kể cả niềm vui và hạnh phúc. Còn bây giờ là những kỷ niệm khó quên một thời. Đầu những năm 90, thời kỳ „đổi mới” đã tạo điều kiện cho nhiều gia đình thoát khổ, nếu cơ may đến thì có cơ hội làm giầu. Và chúng tôi lại tìm về nơi đất lành để đoàn tụ. Hai ông bà ở cái tuổi về hưu, sang Ba Lan sống cùng con cháu là chuyện bình thường. Nhưng chính thời gian nghỉ hưu ông bà mới tìm lại được chính mình, có nhiều điều kiện hơn để chăm lo cho gia đình, trước hết là chăm lo sức khỏe cho bản thân, lo bữa cơm ngon cho con, cho cháu, đỡ đần con cháu những lúc ốm đau, đi học, về nhà. Chỉ những ai sang đây một mình, đẻ, nuôi, dạy con ăn học, kiếm sống mới thấm thía sâu sắc cảnh thiếu thốn sự giúp đỡ của bố mẹ. Ở tuổi 80 mà ông đi lại như ở tuổi 60 mươi, minh mẫn ở cái tuổi 50, có ích cho mọi người ở cái tuổi 30-40 thì thật là quý, hiếm. Ông có được cái đức ăn, ngủ điều độ từ mấy chục năm nay thực là lộc trời ban cho những người có phúc. Ở cái tuổi 80 tất cả mọi việc đều tự mình, không làm phiền ai, không cần thuốc men do bệnh tật đã là một tấm gương sáng cho chúng ta. Các cụ nói có cái phúc sống và mong có cả cái phúc chết. Tôi mạo muội nghĩ rằng, nếu sống khỏe mạnh đến quá cái tuổi xưa nay hiếm, thì cái phúc này chắc sẽ được hưởng, và có lúc ông cũng mong được như vậy. Ông sinh ra trong một gia đình đồ nho, xem mạch, kê đơn là nghề gia truyền. Mỹ Đức, Hà Tây (trước đây) một vùng địa linh sơn nước xem như một trong những nơi đẹp nhất trời Nam với chùa Hương tích và lễ hội chùa Hương cả trong tháng 3 sau tết nguyên đán chính là ký ức tuổi thơ của ông về nơi chôn rau cắt rốn của mình. Đi thiếu sinh quân lúc tròn 16 tuổi, tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ trên nhiều mặt trận Bắc,Trung,Nam và Trung, Hạ Lào. Rồi lại ròng rã những năm sau hòa bình một mình công tác nơi chiến khu xưa đến tận giải phóng Miền Nam. Ông có cơ hội đi Cu-ba đào tạo về Y học cổ truyền Việt Nam một thời gian. Đã đi qua tất cả các thời kỳ khó khăn của đất nước, được đào tạo đầy đủ về chuyên môn, được rèn luyện trong thực tiễn, con người ông là con người mẫu mực của một thời, do vậy bây giờ cuộc sống vật chất dù có được „tôn vinh” quá mức, ông vẫn giữ nếp sống xưa: thanh bạch, nhân ái, rất thường dân và có ích cho mọi người. Rất nhiều bệnh nhân tìm đến ông để chữa bệnh, đều nói rằng: ông là người sống giản dị, khiêm tốn. Hai mươi năm sống ở Ba Lan hàng trăm bệnh nhân đã qua ông điều trị.

 Tôi nghĩ rằng không phải ai cũng được chữa khỏi bệnh, nhưng rất nhiều căn bệnh đã được chữa khỏi và thuyên giảm. Một bệnh nhân người Ba Lan làm hẳn một khung kính đề lời cảm tạ GS Đỗ Văn Thường – đó là sự ghi nhận cụ thể về tấm lòng biết ơn của một bệnh nhân đối với một thầy thuốc. Với nhiều bệnh nhân tấm lòng tri ân là vô hạn. Có bệnh nhân nam buôn bán trên sân 10 năm, một thời đã có chút vốn liếng. Họa vô đơn trí: vừa bị vỡ nợ, lại bị tai nạn, liệt hẳn một nửa người. Anh em “cùng hội cùng thuyền” phải cứu mang nhau: cho ăn, ở, cho tiền thuốc chữa bệnh. Biết được tin này ông Thường châm cứu miễn phí. Lúc bệnh thuyên giảm ra về chào ông, anh nghẹn ngào nói trong nước mắt: „Người Việt Nam trong khó khăn hoạn nạn thật sự biết đùm bọc nhau. Cháu chỉ biết nói lời cảm tạ mọi người”. Bệnh nhân của ông phần đông lại là người Ba Lan vì gia đình ông sống ở khu Wola, xa nơi ở tập trung của người việt. Người này mách người kia, một đồn hai, hai đồn bốn... và cứ thế trung bình hàng ngày ông có khoảng gần chục bệnh nhân. Phụ nữ thường mắc các bệnh thần kinh (sợ hãi, hoang tưởng), các bệnh phụ khoa, thấp, khớp. Đàn ông thường mắc bệnh trĩ, loạn tinh thần. Những bệnh này thường dùng châm cứu mới có cơ may phục hồi chức năng của hệ thần kinh. Mỗi bệnh có phương pháp đặc thù chữa trị hiệu quả cao.

Nghề gia truyền của ông là điều trị về trĩ. Đã điều trị là khỏi mà không làm hao tổn đến hậu môn đại tràng, không để lại hậu quả sau chữa trị. Ông có cái tên rất đời thường Đỗ Văn Thường đúng như cuộc sống thường ngày bình an, hữu ích của ông. Sáng dậy lúc 5 giờ, sau tập thể dục, làm vệ sinh, ăn sáng, 8-12 giờ bệnh nhân đến thì điều trị, trưa vẫn có thói quen nằm nghỉ 30 phút, chiều từ 14h đến chiều tối lại đón nhận bệnh nhân. Ông có riêng gian phòng to, sạch sẽ, thoáng đãng với 3 giường bệnh dành cho châm cứu. Thuốc của ông hoàn toàn là thuốc nam đưa từ Việt Nam sang. Ai đến với ông trước hết là đến với một bác sĩ „lương y như từ mẫu” vui vẻ, nhiệt tình, ông chỉ ngại không giúp được người bệnh trong việc chữa trị, chứ không câu nệ bất cứ điều gì, kể cả về tài chính. Những lúc rảnh rỗi ông ra vườn giúp bà trồng hoa, tưới cây. Mùa hè nào gia đình ông cũng dư rau, quả để dùng, nhiều khi còn chia cho người quen, bạn bè mà không hết. Ông bà trồng được cả mướp hương nấu canh mồng tơi, mướp đắng để xào, các loại cải và đặc biệt các loại rau thơm thuần việt. Ông có sở thích thư dãn bằng cách chăm sóc chim cảnh, cá cảnh hoặc xem chương trình truyền hình VTV4. Sở thích khác, hay đã thành thói quen không bỏ được, mà cũng ít người có thể làm được là tắm. Ông tắm ngày hai lần sáng và tối trước khi ngủ. Ông coi nó như một phương pháp rèn luyện để thích nghi với sự thay đổi của khí hậu. Ông thích sống tĩnh mịch, ít khi nói về mình, chỉ có những người quen thân đôi khi ông giãi bầy một chút tâm sự, hồi tưởng về một thời quá khứ, không phải để kể về công lao đóng góp của mình, không thích kêu ca về thời cuộc. Nói về tiêu cực xã hội, ông triết lý rằng: „nhân nào quả ấy, kẻ gieo tội ác sẽ phải chịu trừng phạt, không trực tiếp thì gián tiếp, không đời mình thì đời con, đời cháu phải gánh”. Ông có nghề trong tay, đã có quân hàm đại tá trước lúc về hưu, có quyết định nghỉ hưu. Nhưng oái oăm thay đến nay ông vẫn chưa hề nhận được một đồng lương hưu nào. Chuyện dài có lịch sử và tình tiết ly kỳ nhưng rất Việt Nam ông không muốn kể hết. Cuộc đời ai cũng có cái buồn riêng, nhiều khi cần giữ kín trong lòng. Cái mất nhiều khi không nên cho là thiệt. Cái được không chắc là của mình. Ông quan niệm mọi việc nên coi nó nhẹ nhàng, vui với công việc, vui với những gì tự mình có được, không sa vào những „vẩn đục cuộc đời”, cũng chẳng quá trăn trở với những gì chưa toại nguyện, nên ông sống thoải mái và tự tin. 

Thời nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy những người như ông Thường thật đáng kính nể. Sống khỏe mạnh, vui vẻ, sống có ích cho nhiều người, sống đời sống giản dị khiêm tốn, coi chăm lo cho gia đình là hạnh phúc cơ bản lớn nhất cuộc sống. Phải chăng đó là những chuẩn mực kinh điển về đạo đức mà không phải mấy ai làm được. Một sĩ quân quân đội ra sinh vào tử trong hai cuộc kháng chiến, một bác sĩ đông y đã cứu chữa bao nhiêu căn bệnh cho bao nhiêu người, ông chính là Đỗ Văn Thường đang sống ngay bên cạnh chúng ta, nhưng chắc đã có bao nhiêu người được biết về ông, nhất là thế hệ người Việt thứ II, thứ III.

Trà Lý

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu