Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

VẤN ĐỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở BA LAN

07/08/2010 16 phút đọc Dịch: Nguyễn Văn Thái
Ba Lan hiện có hơn một chục dân tộc thiểu số và các bộ tộc. Việc xác định chính xác số lượng người trong các nhóm
VẤN ĐỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở BA LAN

 

Ba Lan hiện có hơn một chục dân tộc thiểu số và các bộ tộc. Việc xác định chính xác số lượng người trong các nhóm dân tộc thiểu số và các bộ tộc đang sinh sống trên lãnh thổ Cộng hòa Ba Lan đã được thực hiện trong cuộc tổng điều tra dân số tiến hành năm 2002, nhưng chúng ta không có số liệu công bố công khai vì điều đó vi phạm đạo luật về bảo vệ các tài liệu về nhân thân của cá nhân. Theo ước tính, các nhóm người thiểu số chiếm khoảng 2% – 3% dân số toàn quốc, tức là khoảng 1 triệu người. Như vậy Ba Lan là một trong những quốc gia có ít người thiểu số vào loại nhất so với các nước Châu Âu.

Trước đây trong các điều luật quốc tế và hiến pháp CH Ba Lan, khái niệm thế nào là dân tộc thiểu số không được định nghĩa và các tiêu chuẩn để phân biệt giữa dân tộc thiểu số và các bộ tộc (mniejszości narodowe i etniczne) cũng không được đưa ra minh bạch. Việc không phân biệt rõ ràng này đã gây ra  nhiều hậu quả thực tế khá phức tạp trong quá trình thi hành luật bâu cử, bởi lẽ pháp luật Ba Lan dành cho các nhóm dân tộc thiểu số những quyền ưu tiên nhất định, trong khi đó thì các bộ tộc không được hưởng quyền lợi đó. Chính sự thiếu chặt chẽ đó đã dẫn tới những vụ kiện tụng phức tạp liên quan đến hoạt động của các dân tộc thiểu số, đặc biệt là vụ Tòa phúc thẩm Katowice từ chối không công nhận đăng ký hoạt động của Liên hiệp các dân tộc Sląsk năm 1997 (Związek Ludności Narodowej Sląskiej).

Theo quan niệm truyền thống của Ba Lan thì khái niệm dân tộc thiểu số được dùng để chỉ những nhóm người có ngôn ngữ và văn hóa riêng đang sống trên lãnh thổ Ba Lan, nhưng đại bộ phận dân tộc đó lại cư trú ở quốc gia khác - quốc gia gốc của họ. Những nhóm người dù có ngôn ngữ và văn hóa riêng, nhưng không thuộc về bất cứ quốc gia nào thì không được coi là dân tộc thiểu số, mà chỉ là bộ tộc (người Romow hay còn gọi là Digan chẳng hạn).

Mãi đến ngày 6 tháng 1 năm 2005, Quốc hội Ba Lan mới thông qua đạo luật về dân tộc thiểu số và các bộ tộc (Đạo luật ngày 6-01-2005, Dz. U. z 2005 r., Nr 17, poz. 141).

Điều 2 của Đạo luật này quy định: dân tộc thiểu số là nhóm công dân Ba Lan đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây1-     có số người ít hơn so với nhóm những người còn lại của CH Ba Lan2-     cơ bản khác biệt so với các công dân còn lại của Ba Lan về tiếng nói, văn hóa và truyền thống3-     có ý định bảo tồn tiếng nói, văn hóa hoặc truyền thống riêng4-     có ý thức về lịch sử cộng đồng dân tộc của mình và mong muốn được biểu thị và bảo tồn nó5-     cha ông nhóm người này đã sinh sống ở Ba Lan ít nhất là 100 năm6-     coi mình là một bộ phận của dân tộc ở quốc gia gốc của mình.

So với tiêu chuẩn nêu ra ở điểm 6 trên đây, các bộ tộc khác dân tộc thiểu số ở chỗ họ là nhóm người không coi mình là bộ phận của một dân tộc ở bất cứ quốc gia gốc nào, hay nói khác đi, họ không có quốc gia.

Song các tiêu chuẩn nêu ra trên đây cũng gặp phải sự phản đối nhất định trong dư luận công chúng, vì theo 6 tiêu chuẩn đó, nhiều nhóm người có thể bị phân biệt đối xử, dù họ có tiếng nói, văn hóa và phong tục riêng, hiện đang sinh sống ở Ba Lan, nhưng không được coi là dân tộc thiểu số.

Theo các tiêu chuẩn như vừa nêu, ở Ba Lan hiện có 9 dân tộc thiểu số (mniejszości narodowe) – xếp theo vần chữ cái của Ba Lan như sau:

1-     Người Bạch Nga 2-     Người Czech 3-     Người Litva  4-     Người Đức 5-     Người Ormian 6-     Người Nga 7-     Người Slovakia 8-     Người Ucraina 9-     Người Do Thái Cũng theo tiêu chuẩn nêu ra ở văn kiện đó, các bộ tộc (mniejszości etniczne) ở Ba Lan bao gồm:

1-     Karaimska 2-     Łemkowska 3-     Digan 4-     TáctaTheo kết quả điều tra dân số năm 2002, công dân Ba Lan gốc Việt Nam có 1.808 người, đứng thứ 11 so với các dân tộc thiểu số và bộ tộc hiện đang sinh sống tại Ba Lan.

 Cũng cần nói thêm rằng có tới 96% số người được hỏi tuyên bố mình là người Ba Lan, chỉ có 1,23% (tức là 471500 người) nhận mình là người dân tộc khác và ngược lại 2,03% không nhận mình thuộc dân tộc nào. Điều tra dân số năm 2002 thực hiện trong lúc chưa có các tiêu chuẩn  quy định chặt chẽ định nghĩa thế nào là dân tộc thiểu số và các bộ tộc. 

Số ttNhóm ngườiSố lượngNơi cư trú (województwa)Xem thêm tài liệu
1Ślązacy173 153śląskie (86%), opolskie (14%) 
2Niemcy152 897opolskie (70%), śląskie (21%)Niemcy w Polsce
3Białorusini48 737podlaskie (95%)Białorusini w Polsce
4Ukraińcy30 957warmińsko-mazurskie (39%), zachodniopomorskie (13%), podkarpackie (11%)Ukraińcy w Polsce
5Romowie12 855małopolskie (13%), dolnośląskie (10%), mazowieckie (10%)Romowie w Polsce
6Rosjanie6 103mazowieckie (22%), dolnośląskie (11%), podlaskie (11%)Rosjanie w Polsce
7Łemkowie5 863dolnośląskie (53%), małopolskie (27%), lubuskie (13%),Łemkowie w Polsce
8Litwini5 846podlaskie (88%)Litwini w Polsce
9Kaszubi5 062pomorskie (98%) 
10Słowacy2 001małopolskie (81%)Słowacy w Polsce
11Wietnamczycy1 808mazowieckie (60%)Wietnamczycy w Polsce
12Francuzi1 633mazowieckie (30%), śląskie (12%), dolnośląskie (12%)Francuzi w Polsce
13Amerykanie1 541mazowieckie (24%), małopolskie (16%)Amerykanie w Polsce
14Grecy1 404dolnośląskie (38%), zachodniopomorskie (12%)Grecy w Polsce
15Włosi1 367mazowieckie (23%), małopolskie (10%)Włosi w Polsce
16Żydzi1 133mazowieckie (38%), dolnośląskie (18%), opolskie (1%)Żydzi w Polsce
17Bułgarzy1 112mazowieckie (35%), śląskie (10%), opolskie (1%)Bułgarzy w Polsce
18Ormianie1 082mazowieckie (24%)Ormianie w Polsce

  Các quyền cơ bản của dân tộc thiểu số và các bộ tộc ở Ba Lan: 

- Ở Ba Lan pháp luật quy định cấm tệ phân biệt chủng tộc, cấm việc thành lập và hoạt động của mọi tổ chức gây chia rẽ, hận thù màu da, bộ tộc, dân tộc.

- Tự do bảo tồn và phát triển tiếng nói riêng của dân tộc mình.

- Tự do bảo tồn phong tục tập quán, truyền thống và phát triển nền văn hóa dân tộc của mình.

- Quyền được học tiếng dân tộc và quyền được học bằng tiếng dân tộc của mình.

- Quyền được thực hành tín ngưỡng tôn giáo của mình.

- Quyền được lập ra các cơ quan giáo dục, văn hóa và các tổ chức nhằm bảo vệ và duy trì các vấn đề liên quan đến bản sắc văn hóa dân tộc.

- Quyền ưu tiên cho các ủy ban bầu cử của các dân tộc thiểu số (không cần phải vượt ngưỡng 5%).

- Đạo luật ngày 29-12-1992 về phát thanh và truyền hình quy định các đài phát thanh và truyền hình công cộng phải quan tâm đến nhu cầu của các dân tộc thiểu số và các bộ tộc.

- Đạo luật về giáo dục quy định ở những địa phương tập trung đông người thuộc nhóm các dân tộc thiểu số và bộ tộc, bên cạnh tiếng Ba Lan có thể dùng tiếng dân tộc như một ngôn ngữ bổ trợ, các bài học bằng tiếng Ba Lan cần kèm theo bản dịch ra tiếng dân tộc, thậm chí ở tòa án cấp địa phương cũng có thể dùng tiếng dân tộc như một thứ ngôn ngữ bổ trợ.

 

 

Nguyễn Văn Thái
Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu