Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Huân chương cao quý nhất „Orzeł Biały” của nhà nước Ba Lan cho bà Wisława Szymborska

26/12/2010 15 phút đọc BBT
Tổng thống Ba Lan sẽ trao huân chương „Order Orła Białego” cho nhà thơ lớn của Ba Lan – bà Wisława Szymborska, theo nguồn tin
Huân chương cao quý nhất „Orzeł Biały”  của nhà nước Ba Lan cho bà Wisława Szymborska

Tổng thống Ba Lan sẽ trao huân chương „Order Orła Białego” cho nhà thơ lớn của Ba Lan – bà Wisława Szymborska, theo nguồn tin "Fakty" TVN.  Nhà thơ sẽ nhận phần thưởng nhà nước cao nhất vào ngày 17.01 tại Wawel từ tay tổng thống Bronisław Komorowski. Năm 1974 nhà thơ đã được trao huân chương „Cây Thập Tự” (Krzyż Kawalerski Orderu Odrodzenia). Nhân dịp này nhiều nhà hoạt động văn hoá đương thời nổi tiếng của Ba Lan cũng được trao tặng huân chương „Cây Thập Tự”, trong số đó có Krystyna Janda (nghệ sĩ nhà hát), Agnieszka Holland (nghệ sĩ điện ảnh), Jan Jakub Kolski (đạo diễn phim) và Marcel Łoziński (đạo diễn kịch, phim).

Wisława Szymborska sinh
ngày 02.07.1923 ở ngoại ô Poznań, nhưng cuộc đời bà lại gắn bó với mảnh đất cố đô Kraków. Thơ của bà có sức biểu cảm sâu sắc nội tâm, đầy tính triết lý, mang tính bác học. Sáng tạo đặc trưng trong trang thơ của bà là độ chuẩn xác về ngôn từ, sự cô đọng, tính phê phán, tính châm biếm sự việc ngang trái nhằm nêu bật nội dung sâu sắc. Tác giả thường đề cập những đề tài có tính cách đối nghịch và xem xét hiện thực con người trong một quần thể hay nhóm người.

 

nhà thơ Wisława Szymborska

 

Bà được trao giải thưởng Goethe năm 1991, tiếp theo là giải thưởng Herder.

 

Năm 1996 Ủy ban Nobel trao giải thưởng Nobel cho bà với nhận xét: "…thơ của Szymborska có độ châm chọc sâu sắc, mô tả ngữ cảnh có tính lịch sử và sinh học về những mẩu đời chân thực của con người…". Những tác phẩm quan trọng nhất của bà Wisława Szymborska gồm:

 

  • Dlatego żyjemy - Vì vậy chúng ta sống (1952)
  • Pytania zadawane sobie - Tự hỏi mình  (1954)
  • Wołanie do Yeti  - Gọi cái tên Yeti (1957)
  • Sól  – Muối (1962)
  • 101 wierszy - 101 câu thơ (1966)
  • Sto pociech - 100 niềm vui (1967)
  • Wiersze wybrane - Thơ chọn lọc (1967)
  • Poezje wybrane - Tuyển tập thơ chọn lọc (1967)
  •  Wszelki wypadek - Điều bất kỳ (1972)
  • Wielka liczba - Con số vĩ đại (1976)
  • Ludzie na moście - Con người trên chiếc cầu (1986)
  • Poezje: Poems (edycja dwujęzyczna polsko-angielska) - Tuyển tập thơ song ngữ (1989)
  • Lektury nadobowiązkowe - Bài học thêm (1992)
  • Koniec i początek - Kết thúc và khởi đầu (1993)
  • Widok z ziarnkiem piasku - Cảnh  quan cùng hạt cát (1996)
  • Sto wierszy - sto pociech - 100 câu thơ, 100 niềm vui (1997)
  • Chwila - Chốc lát (2002)
  • Rymowanki dla dużych dzieci - Thơ cho trẻ em (2003)


Xuân Nhung


*
Chùm thơ Wisława Szymborska - Thái Linh dịch

 

Không có gì hai lần

Không có gì xảy ra hai lần
Và sẽ không. Vì thế
Chúng ta sinh ra không theo thông lệ
Và chết đi chẳng có thói quen.

Dù chúng ta là những học viên
Ngu dốt nhất của mái trường thế giới
Thì ta cũng sẽ không nhắc lại
Một mùa đông hay mùa hạ qua rồi.

Không có ngày nào là sẽ tái hồi
Chẳng có hai đêm nào giống nhau đến hết
Không có hai nụ hôn y hệt
Hai cái nhìn vào mắt như nhau.

Ngày hôm qua, ai đó như đâu
Ở gần em, nhắc tên anh thành tiếng
Em thấy như có bông hồng chao liệng
Rơi vào từ ô cửa sổ mở tung.

Ngày hôm nay, khi có anh cùng
Em quay mặt vào tường lặng lẽ
Bông hồng ư? Bông hồng nào thế?
Là hoa ư? Hay là đá, biết đâu chừng?

Vì sao ngươi, giờ khắc, cứ hòa cùng
Với nỗi sợ nỗi bất an vô ích?
Ngươi hiện hữu – nên phải trôi qua, nhất thiết
Ngươi trôi qua – nên điều đó đẹp sao!

Mặt tươi cười, ôm lấy vai nhau
Ta cố gắng kiếm tìm thỏa hiệp
Dù chúng ta thật là khác biệt
Tựa như hai giọt nước trong veo.

*

Trong dòng sông của Heraclitus

Trong dòng sông của Heraclitus
Con cá bắt cá
con cá phanh thây con cá bằng một con cá sắc
con cá xây con cá, con cá ở trong con cá
con cá bỏ trốn khỏi con cá bị bao vây.

Trong dòng sông của Heraclitus
con cá yêu con cá
Đôi mắt em - nó nói - sáng như cá trên trời
Cùng em đến vùng biển chung tôi muốn được bơi
ôi, em xinh đẹp nhất trong đàn cá.

Trong dòng sông của Heraclitus
con cá nghĩ ra một con cá siêu cá
con cá quỳ gối trước con cá, con cá hát cho con cá nghe
cầu xin con cá để được bơi thật nhẹ.

Trong dòng sông của Heraclitus
tôi con cá lẻ đơn, tôi con cá khác biệt
(dẫu chỉ khác với cá cây hay cá đá)
Đôi khi tôi viết về những con cá nhỏ
với lớp vẩy bạc ánh lên, nhanh đến nỗi người ta cứ ngỡ
đó chỉ là bóng đêm đang bối rối chớp mi.

*

Gửi cô gái thất tình

Tôi biết những người trong tim tắt lụi
Nhưng lại nói rằng: nó ấm áp, sáng tươi
Và rất dối gian khi họ nở nụ cười

Tôi biết xếp nét hình trên gương mặt
Để không ai nhận thấy nỗi buồn rơi.

*

Tầm nhìn cùng hạt cát

Chúng ta gọi nó là hạt cát.
Nó tự gọi mình không là hạt, không là cát.
Nó không cần tên
chung hay riêng,
tạm bợ, lâu dài,
đúng hay sai.

Với nó chẳng nghĩa gì cái nhìn, cái chạm.
Nó không cảm thấy bị nhìn và bị chạm.
Chuyện nó rơi xuống bên cửa sổ
chỉ là đối với chúng ta, đâu phải cuộc phiêu lưu của nó.
Với nó cũng thế thôi, rơi xuống đâu cũng vậy,
chẳng cần chắc chắn đã rơi rồi
hay vẫn đang rơi.

Từ cửa sổ nhìn ra hồ thật đẹp,
nhưng tầm nhìn không nhìn thấy chính mình.
Không sắc màu và không dáng hình,
không âm thanh, không mùi vị,
nó không đớn đau trên hành tinh.

Không đáy đáy hồ
và không bờ bờ nước.
Nước không khô không ướt.
Sóng không lẻ, không trùng
vỗ không nghe mình vỗ
quanh những tảng đá không nhỏ, không to.

Và tất cả dưới bầu trời vốn dĩ không trời,
nơi lặn xuống mặt trời hoàn toàn không lặn
và giấu mình không giấu sau vô thức mây trôi.
Gió kéo mây không vì điều gì khác
chỉ bởi vì gió thổi, vậy thôi

Trôi qua một giây.
Hai giây.
Ba giây.
Nhưng đó chỉ là ba giây của ta.

Thời gian trôi như người đưa tin khẩn.
Nhưng đó chỉ là sự so sánh của ta.
Nhân vật được bịa ra, sự vội vàng ước lệ,
Còn tin tức thì vô nhân.

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu