Câu cửa miệng của cô ta là “ngu ngốc” mỗi khi tôi không hiểu cô ta nói gì. Tôi phải ngủ trên sàn nhà. Cô ta đánh thức tôi bằng những cú đá, cú đạp. Nhiệm vụ hàng ngày của tôi là lau sạch bóng nhà cửa. Cô ta cấm tôi mở tủ lạnh và bắt đầu cân đo đong đếm khẩu phần ăn hàng ngày của tôi – hai kẹp bánh mì hàng ngày.
Anh từng là người phụ trách nhóm nhân viên hầu bàn trong khách sạn Alibaba ở Hurghada. Nghĩa là cũng đã từng có địa vị nhất định. Anh còn là con cả trong một gia đình và được coi là tấm gương cho các em noi theo. Anh đã học tiếng Anh và kiếm tiền không đến nỗi nào. Hàng ngày anh vận sơ mi trắng, làm các món đồ uống ở quầy bar. Chính cô ta chủ động tán tỉnh làm quen anh. – Cô ta không đẹp nhưng có trái tim đẹp – anh đã từng nói thế.
Cô bay sang Ai Cập thăm anh hai lần. Cô lấy một cái áo sơ mi của anh mang về nước. Khi hai người nói chuyện qua mạng với nhau, cô đưa cái áo ấy lên mũi ngửi và nói: “Anh yêu...”. Họ làm lễ cưới sau một năm quen nhau, làm tại cơ quan chịu trách nhiệm về hôn nhân ở Piaseczno hẳn hoi.
Bà hàng xóm ở tầng trên kể: - Vào khoảng tháng Chín gì đó tôi thấy có một anh đàn ông da đen chuyển đến ở nhà cô Alicja. Suốt ba tháng đầu, tình yêu giữa họ quả thật lớn lao. Vào tháng Mười Một thì mọi cái bắt đầu xuống dốc. Khi gặp tôi ở cầu thang, cô ấy nói: “Tình yêu qua rồi, chỉ còn lại nỗi khổ thôi”. Chiều tối hôm đó tôi nghe thấy tiếng cô Alicja cùng cậu con trai và anh người yêu cũ quát mắng anh đàn ông Ai Cập thậm tệ: “Đồ đốn mạt! Đồ vô dụng! Đồ rác rưởi! Đồ Ngu! Thằng hề!” Anh ta trả lời bằng thứ tiếng Ba Lan nửa ngô nửa ngọng của mình: “Tôi xin mọi người, đừng đánh, tôi xin lỗi...” Sau đó tôi nhìn thấy anh ngồi co ro trên bậc cầu thang. Tôi bắt chuyện, bảo nên báo với Sứ quán Ai Cập, nhưng anh lảng tránh. Anh ngại những người xung quanh.
Ông hàng xóm ở tầng dưới kể: - Quan hệ vợ chồng nhà này có cái gì đó không ổn. Tôi thường xuyên thấy anh ta đi lang thang ngoài phố vào những ngày đông rét mướt, đi đôi giầy mùa thu, áo blu mỏng, đầu trần. Anh ta run bần bật lên vì lạnh. Trông hệt như người vô gia cư. Tôi cũng đã nghe thấy cô Alicja gầm lên với anh ta ở ngay cầu thang: “Không đi vứt rác đi à?”. Có lần tôi nhìn thấy anh nhặt bánh mì khô từ thùng rác bỏ vào miệng.
Tình yêu và những khác biệt văn hóa
Anh ta - Abdullah, 37 tuổi. Anh đã làm việc trong hệ thống khách sạn Ai Cập 16 năm ở Hurghada, sau đến Ba Lan vào đầu tháng Chín năm 2009 để cưới vợ.
Cô ta - Alicja, 39 tuổi. Đã ly hôn chồng, đang nuôi cậu con trai 18 tuổi tên là Tadeusz. Nghề nghiệp của cô là nhân viên thẩm mỹ viện.
Ba người sống với nhau trong căn hộ hai phòng của cô ở Piaseczno. Họ giao tiếp với nhau bằng một thứ ngôn ngữ hỗn hợp gồm tiếng Anh, tiếng Ba Lan và tiếng Nga. Tại Ủy ban tỉnh Mazowieckie họ đã làm các thủ tục để hợp pháp hóa việc Abdullah ở Ba Lan. Mấy tháng sau, cô Alicja đề nghị với Ủy ban dừng việc này lại vì cô không nhìn thấy tương lai trong cái quan hệ vợ chồng “đang có nhiều vấn đề về ngôn ngữ và sự khác biệt văn hóa”.
Bà hàng xóm căn hộ đối diện kể: - Tôi với cô Alicja quen nhau từ lâu nên thỉnh thoảng chúng tôi hay qua lại thăm nhau. Anh ấy cũng hay ghé sang nhà tôi. Anh luôn phàn nàn là vợ anh bắt anh đi làm và lau chùi nhà cửa. Tôi giải thích cho anh hiểu rằng phụ nữ Ba Lan lúc nào cũng muốn nhà cửa sạch sẽ tinh tươm, cho nên anh cần phải quen dần với điều này. Như chồng tôi, cũng phải đi làm và dọn dẹp nhà cửa.
Alicja: - Anh ta không muốn rửa ráy hàng ngày. Mấy ngày liền anh ta mặc một chiếc áo may ô. Quan trọng hơn cả với anh ta là được ngủ đến trưa. Anh ta có thể ngồi cả ngày trước màn hình vô tuyến, nhưng không thích học tiếng Ba Lan. Sau đó bỏ nhà đi. Tôi chẳng hiểu khi đó anh ta làm gì. Ở bên Ai Cập bọn họ sống như vậy. Đôi khi anh ta để lại cho tôi được 20 złoty. Sau này tôi hiểu ra là anh ta chỉ cốt sao có được thẻ định cư. Có lần anh ta nói với tôi là đàn ông Ai Cập muốn ở con gái châu Âu hoặc là tình dục, hoặc tiền, hoặc thẻ định cư.
Abdullah: - Tôi muốn chúng tôi sang Ai Cập sống. Nhưng Alicja ra sức thuyết phục tôi rằng ở Ba Lan tương lai sáng sủa hơn, có nhiều khách sạn để tôi có thể làm việc hơn. Thời gian đầu quả thật mọi chuyện với chúng tôi rất tốt đẹp. Tôi muốn học tiếng Ba Lan ngay nhưng Alicja bảo không cần chi ra ngần ấy tiền cho việc học. Cô ấy tự cho mình quyền sử dụng tất cả cả khoản tiết kiệm của tôi. Một tháng sau ngày cưới, tiền của tôi đã hết nhẵn. Và cơn ác mộng bắt đầu từ đó. Tôi trở thành kẻ nô lệ của vợ và con trai cô ta. Tôi phải ngủ dưới sàn nhà và hai mẹ con đánh thức tôi bằng những cú đá, cú đạp. Tôi không thể tắm rửa trước họ, cũng không được sử dụng nhà vệ sinh – tôi phải đến các nhà vệ sinh cơ động hay nhà vệ sinh công cộng. Nhiệm vụ hàng ngày của tôi là lau chùi sạch sẽ cửa nhà, nếu không đến tối tôi sẽ không được về nhà. Vợ tôi bắt đầu quy định khẩu phần ăn chi li cho tôi. Lúc đầu cô ta cho tôi ăn hai kẹp bánh mì mỗi ngày, Tadeusz có nhiệm vụ canh chừng xem tôi có lấy gì ăn thêm hay không. Sau đó cô ta cấm tôi mở tủ lạnh. Thỉnh thoảng cô ta quẳng cho tôi mấy thứ đồ ăn quá hạn và nói: “Muốn thì cầm lấy mà ăn”. Tôi có thể phải ăn từ cái chậu cho chó ăn, song tôi đã không làm điều đó. Tôi là người theo đạo Hồi, tôi không ăn thịt lợn và không uống rượu. Vậy mà đã có lần cô ấy đưa tôi miếng thịt, khi tôi ăn được một nửa rồi thì cô ta bảo: “Thịt lợn đấy”. Mọi người thử nghĩ xem, khi đó tôi khổ sở thế nào.
Kêu to để ai đó đến cứu
Vị khách thường xuyên của mẹ con Alicja là Jan, người quen cũ của chị ta.
Abdullah: - Họ uống rượu, sau đó làm tình với nhau. Tôi phải nhìn họ làm chuyện ấy. Tôi nhớ có một buổi tối, vợ tôi cùng anh bồ và cậu con trai uống rượu đến mức say xỉn. Họ bắt tôi phải ngồi cùng đến bốn giờ sáng. Tôi mệt quá thiếp đi trên đi-văng. Thế là họ xông vào tôi, thi nhau giẫm đạp, đấm đá. Họ khóa trái cửa lại để tôi không chạy ra ngoài được. Tôi kêu to, với hy vọng ai đó trong số hàng xóm nghe được, đến cứu.
Sau đó Alicja và Tadeusz đánh đập anh như cơm bữa.
- Tôi không cố gắng tự vệ vì tôi không muốn bị gây khó dễ. Một lần tôi vừa nắm lấy tay vợ, cô ta lập tức làm động tác gọi điện cho cảnh sát, nói tôi đánh cô ta. Ở Ba Lan tôi có quen biết ai ngoài cô ta đâu. Chúng tôi thành vợ chồng được nửa năm. Trong thời gian ngắn đó cô vợ tôi hai lần bay sang Ai Cập. Khi về cô ta cho tôi xem những bức ảnh cô ôm hôn mấy chàng trai trẻ. Tôi cũng nghe thấy cô nói qua điện thoại: “Em nhớ anh, em yêu anh...”. Cô ta hẹn hò nói chuyện qua mạng với họ. Khi đó tôi phải dẫn chó đi ra ngoài và phải đi cho đến khi nào Tadeusz nhắn tin là tôi được phép về. Đôi khi chuyện này diễn ra vào lúc nửa đêm. Nhiều lần tôi suýt chết cóng vì tôi chỉ mặc trên người cái áo mỏng mang từ Ai Cập sang. Vợ tôi không cho mua đồ mới.
Anh ấy vừa khóc vừa chỉ cho tôi xem các vết tím trên người
Anh đã cố gắng tìm việc trong các khách sạn và nhà hàng ở Varsava, nhưng không có kết quả. Anh cũng thử việc mấy ngày tại cửa hàng bánh gối tại Piaseczno, nhưng vì ngôn ngữ bất đồng, không thể giao tiếp với các nhân viên khác của cửa hàng, nên cuối cùng không được tuyển dụng. Nhưng anh vẫn để lại số điện thoại đề phòng trường hợp “biết đâu”.
Anh trở lại đó khi nhiệt độ xuống tới âm 15 độ, chân đi xăng đan, áo blu mỏng, người sút đi đến hơn chục cân, trông gầy rộc. Chị Maria, chủ cửa hàng bánh gối, mở cửa cho anh vào và mời ăn trưa. Anh to nhỏ điều gì đó về những trục trặc với vợ, nhưng chỉ vài câu, không muốn nói nhiều. Sau đó anh xuất hiện đều đặn hơn. Đôi khi anh tự nguyện dọn dẹp bếp, rửa bát đĩa. Anh ăn trưa với các nhân viên cửa hàng. Chị Maria đưa cho anh giày dép, quần áo cũ của đứa con trai hơn chục tuổi của mình. Thỉnh thoảng anh ngủ lại trong phòng thay quần áo của nhân viên cửa hàng. Trước khi về bao giờ anh cũng để quần áo lại. “vì không muốn bị rắc rối” – như anh giải thích.
Chị Maria kể: - Tôi nhớ rõ cái hôm anh chỉ cho tôi xem những vết bầm tím trên người. Ở hai bàn tay, ở cổ, ở đầu. Anh nói còn nhiều vết khác ở bả vai và ở bụng, nhưng tôi không muốn xem hết vì đó là những nơi tế nhị. Anh khóc. Anh nói không đi khám bác sĩ để xác định thương tích vì anh ở Ba Lan bất hợp pháp. Hay nói đúng hơn – anh cũng chẳng biết mình sống hợp pháp hay không, nhưng anh không muốn mạo hiểm. Tôi nhìn những vết tím bầm trên người anh, nhìn người đàn ông bật khóc và tôi cũng khóc theo. Lúc đầu tôi không sao tin nổi là trong nhà anh lại xảy ra những chuyện tồi tệ như anh kể. Nhưng có một buổi chiều, khi vợ anh gọi điện đến, anh bật loa ngoài cho tôi nghe cùng. Anh chỉ nói: “được, em yêu”, “tốt thôi, em yêu ạ”, nhưng cô ta thì gầm lên ra lệnh cho anh đến cửa hàng mua rượu đem về. Cô ta mắng chửi thậm tệ và câu nào cũng văng tục. Tôi không thể nghĩ một phụ nữ có thể dùng những lời lẽ như vậy. Khi đó tôi đã hoàn toàn tin vào những gì anh nói và tôi quyết định giúp đỡ anh.
Anh chỉ nói: tôi gặp vấn đề
Bà hàng xóm ở căn hộ đối diện kể: - Tôi biết cô Alicja đã mua vé máy bay cho anh bằng khoản tiền 1 600 złoty vay của tôi, nhưng anh đã không cầm vé mà bỏ trốn.
Abdullah: - Ngày 26 tháng 3 vợ tôi và anh bồ của cô ta đánh thức tôi dậy vào lúc 5 giờ sáng bằng những cú đá rất mạnh. Jan nói rằng chỉ lát nữa là tôi có máy bay và tôi phải rời đây để về Ai Cập. Nếu không lực lượng biên phòng sẽ xích tay tôi đưa đi. Alicja cũng nói rằng chúng tôi đã ly hôn. Tôi không hề biết gì về tình cảnh của mình, bởi vì mọi giao dịch giấy tờ cô ta đọc và xé ngay trước mặt tôi. Tôi bảo tôi phải ra ngoài hút thuốc một lát. Tôi vừa hút thuốc vừa nghĩ xem phải làm gì. Tôi đã gọi điện cho chị Maria, nhưng tôi hoảng loạn đến mức chẳng nói được gì. Tôi chỉ kịp nói mỗi câu: “tôi gặp vấn đề”. Chị bảo tôi đến ngay nhà hàng bánh gối của chị, bởi vì chị đã tìm được trên mạng một tổ chức có thể giúp đỡ những người đang trong tình cảnh như tôi. Tôi chạy nhanh ra bến xe buýt. Khi tôi vừa từ trên xe bước xuống thì đã thấy chiếc xe của Jan đang phóng như điên về phía tôi. Tôi bắt đầu lấy hết sức chạy thật nhanh. Lúc đó là 7 giờ sáng, đường phố vắng tanh vắng ngắt, kêu cứu cũng chẳng có ai. Tôi rẽ thì xe của Jan cũng rẽ. Tôi có cảm tưởng anh ta muốn nghiến chết tôi. Cảnh tượng giống như trong phim. Cuối cùng tôi đã chạy thoát vào nhà hàng bánh gối, đóng sầm cửa lại. Đó ngày cuối cùng của tôi ở Piaseczno.
Chị Maria cùng chồng đưa Abdullah đến một tổ chức gọi là Hiệp hội Can thiệp bằng Pháp luật tại Varsava. Nữ luật sư Ewelina Mokrzecka nhận trách nhiệm xử lý trường hợp Abdullah. Chính bà đã thông báo sự việc cho Viện kiểm sát, kèm theo những lời khai của anh. Trong đơn bà viết rõ là đã có sự đe dọa vì lý do khác biệt chủng tộc, có sự cấm đoán cầu nguyện theo đúng tôn giáo, cưỡng bức lao động và tước bỏ các điều kiện sống, đánh đập, nhục mạ, hành hạ bằng bỏ đói, đuổi ra khỏi nhà vào mùa đông, bắt uống rượu và xem vợ làm tình với tình nhân.
Bà Ewelina Mokrzecka: - Abdullah đến Ba Lan theo dạng thị thực có giá trị 1 tháng. Để kéo dài thị thực, người nước ngoài phải nộp đơn 45 ngày trước khi thị thực cũ hết hạn. Như vậy anh không thể làm kịp – có thể thấy ngay từ đầu là do cô vợ, người có toàn quyền trong việc này, anh sẽ trở thành người sống bất hợp pháp tại Ba Lan.
Tại sao anh lại tự cho phép người ta cư xử với mình như vậy?
Trong mấy ngày đầu, Abdullah được đưa vào ở tạm trong La Strada – Quỹ chống buôn bán người và nô lệ. Sau đó anh ở trụ sở của Caritas Varsava.
Bà Ewelina Mokrzecka: - Khó khăn lớn nhất đối với chúng tôi là việc tìm cho Abdullah một nơi trú ngụ, bỏi anh là đàn ông và xuất thân từ một khu vực văn hóa khác. Có rất ít nơi ở qua đêm cho những người đàn ông là nạn nhân của bạo lực trong gia đình. Đối với một người đàn ông theo đạo Hồi như anh, bắt sống chung với phụ nữ là không phù hợp với văn hóa của anh, là không thể chấp nhận được.
Bà Ewelina Mokrzecka đã vận động mọi người ủng hộ quần áo cho Abdullah vì tất cả đồ dùng anh đã để lại Piaseczno. Anh bị rối loạn tâm lý, thể hiện qua việc sợ đi ra ngoài đường và không thể ăn uống bình thường. Người ta đã đưa anh đến gặp nhà tâm lý học đa văn hóa của quỹ mang tên Ocalenie.
Cách đây hai tháng anh đã gặp và làm quen với một người đồng hương Ai Cập từ thành phố quê hương mình. Người này đề nghị anh làm việc cho ông tại nhà hàng phục vụ các món ăn Thổ Nhĩ Kỳ. Quán ăn trương biển “Đầu bếp người Ai Cập”. Abdullah làm việc từ sáng cho đến khi người khách hàng cuối cùng ra về. - Ổn rồi. Tôi có tiền. Tôi muốn nhận được thẻ định cư và mở quán ăn riêng – anh nói. – Biết đâu sau này tôi gặp được một phụ nữ hay hơn cũng nên.
Hiện tại anh chưa thể nghĩ đến chuyện về thăm quê hương Ai Cập. Gia đình anh chỉ biết rằng anh đã gặp vấn đề về chuyện vợ con, rằng anh đã bỏ cô ấy mà đi. – Tôi không thể kể hết tình cảnh của tôi cho gia đình nghe. Mọi sẽ hỏi tôi, tại sao tôi lại cho phép người ta cư xử với mình như vậy. Tôi cũng không thể về nước với hai bàn tay trắng. Tôi có năm cô em gái và một cậu em trai. Cho đến nay tôi giúp đỡ các em mình là chủ yếu. Tôi không thể trở về với những khó khăn, rắc rối của mình.
Ngày 30 tháng 11 năm 2010, vụ việc Abdullah đã được chuyển đến Tòa án địa phương tại Piaseczno. Vụ án đang trong quá trình tiến hành. Alicja và cậu con trai Tadeusz của chị ta có thể sẽ bị xử từ 3 tháng đến 5 năm tù giam.
Nguyễn Chí Thuật (Theo Gazeta Wyborcza)Tên Abdullah và tên các địa danh đã được thay đổi