BBT - Trong Dự luật mới của Ba Lan về người nước ngoài công bố ngày 21.02.2011, chương 12, trang 206, có đề cập tới việc cấp thẻ cư trú hai năm cho những người sống bất hợp pháp trong thời gian dài tại Ba Lan. Chúng tôi xin trích dịch nội dung của chương 12, dự luật này.
(Lần lượt trong các kỳ tới, Quê Việt sẽ giới thiệu các phần về viza, tạm cư với các mục đích khác nhau, định cư và cư trú lâu dài trong khối WE của dự thảo bộ luật này)

…
10. Người nước ngoài sống liên tục trên lãnh thổ Ba Lan, ít nhất từ ngày 20. 12. 2007 cho tới khi bộ luật này có hiệu lực, mà hiện cư trú bất hợp pháp, thì tỉnh trưởng tại nơi người đó đang sống sẽ cho phép tạm cư 2 năm, với điều kiện, người đó không phải là mối đe dọa về quốc phòng, an ninh quốc gia hoặc an ninh và trật tự công cộng hay làm tổn hại đến lợi ích nhà nước Cộng hòa Ba Lan, nếu người đó nộp hồ sơ xin tạm trú trong vòng 6 tháng kể từ ngày bộ luật này có hiệu lực.
11. Người nước ngoài sẽ bị từ chối được phép tạm cư trên cơ sở điều 10 được nêu ở trên, nếu:
1) Trong quá trình xét duyệt để cấp giấy phép tạm cư này, có một số tài liệu nộp chứa đựng nội dung không đúng về người đó, hoặc thông tin sai lệch, hoặc sửa chữa tài liệu để tạo nên tài liệu xác thực, tin cậy, hoặc:
2) Người nước ngoài đã có quyết định trục xuất ra khỏi lãnh thổ Ba Lan, liên quan đến việc họ xin cư trú tị nạn.
12. Liên quan đến việc xác định xem người nước ngoài sống ở Ba Lan có liên tục hay không, sẽ áp dụng điều 3, mục 7. 8 „cho phép định cư và cho phép cư trú lâu dài tại Cộng đồng châu Âu (WE)”.
13. Cư trú của người nước ngoài trên lãnh thổ Ba Lan được coi là liên tục, nếu như không có gì khác trong các hồ sơ, bằng chứng thu thập được cũng như các dữ kiện của vấn đề.
14. Trong quá trình xét cấp giấy phép tạm cư trên cơ sở điều 10 được nêu ở trên, sẽ không áp dụng các điều kiện cấp hoặc từ chối trong việc cho phép tạm cư ở mục 8.6 „Cho phép tạm cư trú tạm thời” *.
15. Trong quá trình xét duyệt để cấp giấy phép tạm cư và việc cấp giấy phép tạm cư sẽ áp dụng mục 8.6.1 „Cho phép tạm cư – phần cơ bản”, trừ điều 19 và 27 (26), còn điều 4 và 25 sẽ được áp dụng linh hoạt.
16. Trước khi ra quyết định cho phép người nước ngoài được tạm cư, mà thông tin về họ được lưu trữ trong hồ sơ những người nước ngoài đang cư trú trên lãnh thổ Cộng hòa Ba Lan bất hợp pháp, tỉnh trưởng có nghĩa vụ phải xem xét các thông tin liên quan đến việc cư trú của người nước ngoài đó trên lãnh thổ Cộng hòa Ba Lan có thể là mối nguy hại hay không đến quốc phòng, an ninh quốc gia , an ninh và trật tự công cộng, đồng thời thông báo lên Cục Ngoại kiều.
17. Chỉ huy Bộ đội Biên phòng khu vực hoặc các đơn vị biên phòng trực thuộc, có sở chỉ huy tại các tỉnh, nơi mà người nước ngoài nộp hồ sơ xin phép tạm cư được nêu tại điều 10, có trách nhiệm lấy vân tay, sử dụng thẻ dấu vân tay, hoặc dụng cụ lấy vân tay điện tử đối với người nước ngoài đó.
18. Trong trường hợp người nước ngoài nộp đơn xin phép tạm cư theo điều 10 ở trên, nhưng đồng thời cũng nộp đơn xin phép tạm cư trên cơ sở khác, hoặc xin phép định cư, hay cư trú lâu dài trên lãnh thổ Cộng đồng châu Âu (WE), thì đơn này sẽ không được xem xét.
19. Việc cư trú trên lãnh thổ Cộng hòa Ba Lan trên cơ sở tạm cư theo điều 10 nêu trên sẽ không được tính vào thời gian cư trú hợp pháp và liên tục của người nước ngoài này trên lãnh thổ Cộng hòa Ba Lan, trong mục đích xin phép cư trú lâu dài trên lãnh thổ WE.
20. Người nước ngoài được phép tạm cư trên cơ sở điều 10 nêu ở trên, được quyền lao động trên lãnh thổ Cộng hòa Ba Lan mà không cần xin giấy phép lao động, với điều kiện có giấy chứng nhận của chủ công ty muốn nhận người nước ngoài này vào làm việc21. Người nước ngoài được phép tạm cư trên cơ sở điều 10 nói trên, sẽ phải ký vào bản cam kết rằng đã biết được các nghĩa vụ của mình khi được phép cư trú.
* Ngoài việc được phép tạm cư trên cơ sở điều 10, còn được phép tạm cư với mục đích lao động, tay nghề cao, sinh viên, khoa học, vợ chồng và gia đình của người Ba Lan hoặc người nước ngoài v.v…
Nguyễn Sơn - dịch từ: www.udsc.gov.pl