Những tài liệu NATO tiết lộ nói gì về Ba Lan?
Một năm trước khi thiết quân luật ở Ba Lan, NATO đã tích cực theo dõi các mối quan hệ giữa Ba Lan và Liên Xô - theo tài liệu giải mật của NATO. Đại diện của NATO lúc đó viết rằng tình hình trong khu vực không ổn định và nếu tình hình xấu hơn, họ sẵn sàng hành động. Can thiệp là một trong những kịch bản được đặt ra, nhưng không lên kế hoạch chi tiết. Liên minh quân sự NATO tin rằng sự can thiệp của Liên Xô vào Ba Lan là cùng bất đắc dĩ, Kremlin chỉ có thể thực thi khi có tình huống ngoại lệ.

Trên trang web của NATO đã giới thiệu bộ sưu tập đầu tiên tư liệu về Ba Lan từ năm 1980-1984 do Ban Thư ký Quốc tế, Bộ Tổng Tham mưu quân sự quốc tế và Tổng chỉ huy chiến lược châu Âu (SHAPE) biên soạn. Hiện đã có 65 tài liệu được công khai và được phép tiếp cận. Tám văn bản trong số trên đã được công bố (sẽ lần lượt công bố tiếp) nói về tình hình ở Ba Lan từ cuối năm 1980. Theo những bức điện mật một năm trước đó, NATO đã chuẩn bị cho các chuyến bay quan sát ở châu Âu, theo dõi việc tổng động viên quân dự bị ở Liên Xô, sự yếu kém của công đoàn "Đoàn kết" và chuẩn bị cho mỗi kịch bản theo diễn biến tình hình nhằm đáp lại các hành động của Liên Xô và của Khối quân sự Warsawa.
27.10. 1980: NATO chuẩn bị trong trường hợp có sự can thiệp của Liên Xô và Khối quân sự Warszawa.
01.12. 1980: Tình hình căng thẳng ở Ba Lan. NATO dự báo 2 kịch bản quân sự.
08.12.1980: Thảo luận về hành động quân sự trong trường hợp có sự can thiệp của Liên Xô và Khối quân sự Warszawa. NATO lo lắng về tình hình Ba Lan, đưa máy bay do thám đặt tại biên giới.
16.12 1980: Nếu Liên xô can thiệp vào Ba Lan, sẽ biểu dương lực lượng quân sự.
13.03.1981: Có khả năng có sự can thiệp của Khối quân sự Warszawa vào Ba Lan.
30.06.1981: Liên xô sẵn sàng can thiệp vào Ba Lan. Tình hình Ba Lan được ổn định. Bộ chỉ huy NATO tại châu Âu đáp lại như thế nào nếu có sự can thiệp vào Ba Lan
Việc công bố các tài liệu trên vào tháng 12.2010 là sáng kiến của Bộ trưởng Ngoại giao Radosław Sikorski. Đại diện của Ba Lan tại Trụ sở NATO đã có công văn đề nghị công khai tài liệu nói về thiết quân luật tại Ba Lan có sự tham gia của cán bộ lưu trữ Ba Lan không cần thủ tục. Chọn những tài liệu sẽ công bố tiếp (sẽ vào tháng 12. 2011) nhân kỷ niệm 30 năm ngày thiết quân luật tại Ba Lan. Ba Lan là một trong những thành viên đầu tiên trong nhóm „thành viên mới” có may mắn được biết về tài liệu của NATO viết về thiết quân luật của nước mình. „ NATO không lo ngại tiết lộ tài liệu cho người Ba Lan đã đấu tranh vì tự do„ đây là nhận xét của Bộ trưởng NG Ba Lan Radosław Sikorski. „Không một quốc gia nào phải can thiệp vào công việc nội bộ của Ba Lan" Theo tài liệu được tiết lộ thì NATO không có kế hoạch quân sự liên quan đến sự can thiệp của quân đội Liên Xô, cũng như Khối quân sự Warszawa chống Ba Lan, vì rằng không có cơ sở quân sự pháp lý nào. Theo đánh giá của NATO sự can thiệp của Liên Xô vào Ba Lan là giải pháp cuối cùng, chỉ được quyết định trong tình thế xấu nhất.
Trong báo cáo gửi tư lệnh lực lượng NATO tại châu Âu, tướng Bernard Rogers ngày 01.12.1980 khẳng định: Liên Xô có đủ quân rải khắp biên giới Ba Lan để can thiệp, tài liệu lại nhấn mạnh, có khả năng, nhưng Liên Xô không có kế hoạch can thiệp, việc chuyển quân dọc biên giới chỉ có mục đích gây sức ép lên lãnh đạo Ba Lan.
Tháng 3.1981 trong tài liệu do Tổng thư ký NATO lúc ấy là Joseph Luns có nêu vấn đề "mục tiêu của phương Tây trong khủng hoảng Ba Lan". Họ đã đánh giá: „tình hình Ba Lan có nhiều bằng chứng để lo ngại, chẳng hạn việc tăng quân số của Liên Xô”. Nhiệm vụ hàng đầu của các nước NATO là ngăn chặn sự can thiệp của Liên Xô vào Ba Lan. "Ba Lan phải được quyền tự quyết định về tương lai của mình. Không nước nào phải can thiệp vào công việc nội bộ của Ba Lan"
„ Làm gì khi Liên Xô can thiệp?”
Trong thời gian này NATO xem xét các phương án đối phó, khi xẩy ra kịch bản tồi nhất, có nghĩa là không ngăn được sự can thiệp của Liên Xô". Trong số các hoạt động của NATO: chẳng hạn có cuộc gặp của bộ trưởng ngoại giao các nước NATO trong hội nghị đặc biệt do Hội đồng các nước tham gia khối Bắc Đại Tây Dương tổ chức - cơ quan tối cao ra quyết sách của NATO, ra nghị quyết phản đối sự can thiệp của Liên Xô, kêu gọi Liên Xô rút quân ngay khỏi Ba Lan.
Ngoài ra sẽ tiến hành cấm vận kinh tế, mở chiến dịch phản đối mạnh mẽ sự xâm lược chống Ba Lan, cũng như ngưng mọi hoạt động trao đổi văn hoá khoa học, thể thao giữa các nước thuộc khối NATO và các nước thuộc Khối quân sự Warszawa. Trong tài liệu cũng nêu yêu cầu thay đổi hoạt động hàng không, vân tải đường biển, giao thông đường bộ giưa Liên Xô và các nước NATO. Mặc dù „căng thẳng chính trị ở Ba Lan ngày càng tăng, nhưng tình hình quân sự không thay đổi”, „sự can thiệp của Liên Xô ít khả năng xẩy ra”- đó là những đánh giá phản ánh cuộc gặp ở Brusel đầu tháng 7.1981 có sự tham gia của Tổng thư ký NATO và Chủ tịch Uỷ ban quân sự NATO Thuỷ sư đô đốc Robert H. Falls.
Trong tài liệu có phân tích liên quan đến phản ứng có thể của Quân đội Ba Lan trong trường hợp có sự can thiệp của Hồng quân Liên Xô. Trong số lính Ba Lan có nhiều người đứng về phía "Solidarności".
Các tài liệu cũng đề cập đến vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của Cộng hoà Nhân dân Ba Lan
Tài liệu từ 01.1980 viết: "Tình hình kinh tế, xã hội Ba Lan ngày càng không ổn định, có thể thấy được sự phản ứng của dân chúng trước bất kỳ sự can thiệp từ bên ngoài".
Đề tài khác được phản ảnh là quan hệ giữa chế độ cộng sản và Nhà thờ thiên chúa tại Ba Lan. Việc bầu Giáo chủ Ba Lan vào vị trí Giáo hoàng là sự kiện nổi bật đầu tiên – chắc chắn sẽ tác động đến quan hệ Nhà nước – Nhà thờ ở Ba Lan và với Vatycan. Giáo hoàng người có kinh nghiệm trong „cuộc sống tôn giáo dưới chế độ cộng sản”, mặt khác ”sự có mặt của người ở Vatycan chứng minh điều là cộng đồng giáo dân ở các nước Đông Âu là bộ phận của Nhà thờ Thiên chúa giáo không phân biệt biên giới chính trị và lý tưởng ".
Những hoạt động của khối NATO sau thiết quân luật ở Ba Lan được nói trong tài liệu ghi ngày 02. 02.1982, trong đó có lá thư của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan gửi tướng Wojciech Jaruzelski đề ngày 23.12.1981, cảnh báo „hậu quả nghiêm trọng” nếu chính phủ Ba Lan dùng vũ lực chống lại công dân nước mình”.
Tài liệu của NATO 25.02.1982 cũng có đề cập đến phản ứng của Liên Xô và Khối Warszawa về việc NATO phản ứng thiết quân luật: „ cách làm này của NATO gây lo ngại cho Liên Xô”". Việc ám hại cha sứ Popiełuszko bởi nhân viên cảnh sát mật được xem là chủ ý tạo sự lộn xộn trong xã hội bởi những người không tán đồng đường lối của tướng Jaruzelski.
Một điều được lưu ý là Liên Xô đã phe phán Mỹ có ý đồ „hai mặt", một là yêu cầu tôn trọng quyền con người ở Ba Lan, mặt khác lại hỗ trợ chế độ độc tài Chile, Dominikan hay Salwador.
Trong số tài liệu công bố có những văn bản trong thời gian tháng 11.1984 phân tích tình hình chính trị ở Ba Lan sau vụ hãm hại cha sứ Popiełuszko. Jaruzelski và người cộng sự gần gũi tướng Kiszczak lánh xa trách nhiệm về vụ hãm hại bằng cách bắt ngay 4 thành viên của nhóm công an mật, cách chức cảnh sát trưởng trực tiếp theo dõi và tiến hành điều tra việc này (được Ban chấp hành Trung ương ủng hộ). Tài liệu cũng mô tả phản ứng của nhà thờ về vụ hãm hại cha sứ Popiełuszko. Hậu quả của sự kiện trên có ý nghĩa nổi bật trong 3 vấn đề liên quan đến Ba Lan: vị trí của tướng Jaruzelski và sự cân bằng lực lượng nội bộ chế độ, vị trí của nhà thờ và quan hệ giữa nhà thờ và nhà nước; dư luận xã hội và vị thế của khối đối lập.
Người Ba Lan di tản như thế nào?
Ba Lan đã mất hàng triệu công dân. Những người ra đi kiếm việc làm sau khi Ba Lan gia nhập EU không có ý định trở về nước. Đi di tản kiếm sống ở nước ngoài tốt hơn ở trong nước. Thậm chí khủng hoảng ở Tây Âu không phải lý do khiến họ quay về nước hàng loạt. Theo thống kê chỉ có khoảng 340 nghìn người về nước. Có sự khác biệt lớn giữa di tản lâu dài và tạm thời. Trên 1 triệu người ra đi sau năm 2004 không quay về Ba Lan. Trên 47% người di tản ở lứa tuổi 20 – 34. Ở nước ngoài việc giáo dục con cái thuận lợi hơn, do chế độ nhà nước đối với trẻ em tốt hơn. Từ khi Ba Lan vào EU số người BL sang Anh quốc từ 75 nghìn người tăng lên 521 nghìn người. Cao trào là năm 2009 có đến 96 nghìn người. Riêng ở Luân Đôn 123 nghìn người đang sinh sống. Nhiều người trong số họ đủ sức vượt khó trong thời kỳ khủng hoảng bằng cách lập công ty, tự học thêm, tự vươn lên. Mặt khác sự thay đổi Ba Lan không có sức cuốn họ trở về nước. Theo thống kê chính thức năm 2009 dân Ba Lan ra nước ngoài là 1,9 triệu người. Theo định nghĩa của ONZ, cần tính số người đó vào nước đang cư trú. Dân số Ba Lan hiện không phải là 38,2 triệu, mà là 36,8 triệu, thậm chí ít hơn, bà Gs Iglicka ở Trung tâm Quan hệ quốc tế đánh giá. Hậu quả khủng hoảng tạo ra xu hướng chuyển đến các nước như Na Uy, Thuỵ Điển, Hà Lan, nơi có tiền công lao động cao, dễ tiếp cận với những trợ cấp xã hội, TS Paweł Kaczmarczyk Trung tâm nghiên cứu về người tỵ nạn đánh giá.
Tại Anh quốc cô Sylwia Jońska nói với báo „DGP”: Lúc đầu tôi làm công việc phổ thông, từng là người quét dọn, bưng bê mặc dù tốt nghiệp đại học ngành kế toán. Sau đó cô theo học tại trường „college’u, để học thêm tiếng Anh. Sau năm rưỡi cô nhận được việc làm về kế toán. Hiện cô làm việc cho một công ty khác có thu nhập cao hơn. Cô thấy tương lai ở đây tốt hơn về Ba Lan. Cô đang có kế hoạch mua nhà. Những người như vậy có đến hàng ngàn. Để phát triển cần có sự tham khảo và chỉ dẫn, vì thế cô Elżbieta Ślebzak lại mở công ty tư vấn và ra tạp chí „Twój Sukces UK”. Cô Ślebzak cho rằng thời gian đầu di tản dân Ba Lan thường làm việc dưới khả năng do ngôn ngữ còn hạn chế, bây giờ mọi người tư duy khác –tìm cơ hội để không làm việc tại nhà máy. Họ năng động hơn, quyết tâm hơn, học nhanh hơn. Người Ba Lan di tản được đào tạo tốt, Carlos Vargas-Silva của trường Tổng hợp ở Oksford nói: „Ba Lan chỉ mất đi một đội ngũ chuyên gia, họ lại gửi về Ba Lan rất nhiều tiền: từ 2004 đến nay là 110 tỷ złoty.Riêng năm 2010 số tiền gửi về Ba Lan là 17 tỷ złoty.
Xuân Nhung - lược dịch theo Báo Wyborcza queviet.pl