Đến Vacsava, bạn hãy đến tham quan quảng trường Pilsudski, một trong những địa điểm có ý nghĩa thiêng liêng nhất của dân tộc Ba Lan. Nơi đây cứ đến ngày 11 tháng 11 người Ba Lan lại tổ chức kỷ niệm quốc khánh vô cùng trọng thể. Một bên quảng trường là Mộ Người lính không tên; bên kia là tượng một người mà tên tuổi đã được lấy để đặt tên cho quảng trường - đó là nguyên soái Juzef Pilsudski.

Ý tưởng mộ người lính không tên xuất hiện từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, bắt đầu từ nước Pháp. Sau người Anh cũng xây. Mộ người lính không tên ở Vacsava khánh thành ngày 02 tháng 10 năm 1925, dưới chôn cất các thi hài của những chiến sĩ vô danh đem từ nghĩa trang Liệt sĩ bảo vệ Lwow về. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mộ bị phá hủy, xây lại và khánh thành vào năm 1946.
Như bạn đọc đã biết, trước chiến tranh thế giới thứ nhất, Ba Lan không có tên trên bản đồ thế giới. Đất nước bị ba đế quốc là Nga, Phổ và Áo-Hung chia xẻ. Ba Lan là dân tộc yêu chuộng tự do, đã đổ không biết bao nhiêu xương máu cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Nhưng phải đến sau thế chiến thứ nhất, năm 1918 mới giành được độc lập. Một trong những người có công lớn nhất chính là Juzef Pilsudski đã kể trên.
J. Pilsudski sinh ngày 5 tháng 12 năm 1867 tại Zułowa (Litwa), trong một gia đình giầu có. Cha mẹ có đến 120 ha ruộng đất. Nhưng lớn lên bị nhiễm lý tưởng… cộng sản! Ông là một trong những người sáng lập và lãnh đạo chủ chốt của Đảng Xã hội chủ nghĩa Ba Lan (Polska Partia Socjalistyczna), từng làm chủ bút cho tạp chí „Công nhân” của Đảng. Nhưng Pilsudski trước tiên là người chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất nước, không hão huyền với một „thế giới đại đồng”.
Năm 1896 Pilsudski làm đại biểu của Đảng sang London dự đại hội Quốc tế Cộng sản II. Tại đó các đại biểu Ba Lan đưa ra dự thảo đòi sự ủng hộ cho nền độc lập của nước mình, nhưng đã bị bác bỏ. Điều đó gây ra sự phản kháng trong ông.
Năm 1906 trong Đảng có sự chia rẽ. Pilsudski đứng đầu phái “Cách mạng”, chủ trương hoạt động quân sự cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Các chiến sĩ của phái này tiến hành các cuộc tấn công quan lại Sa Hoàng, cướp kho bạc ở các cơ quan hành chính, những tầu bưu điện chở tiền, khiến một phần không nhỏ trong xã hội coi họ như những băng cướp. Không đủ thực lực, Pilsudski chủ chương dựa vào Phổ và Áo, chống lại Nga.
Năm 1914, chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, việc tổ chức các đơn vị quân sự của người Ba Lan càng trở nên ráo riết. Để tranh thủ quân Ba Lan, hai đế quốc Phổ và Áo đã đưa ra tuyên ngôn hứa thành lập nhà nước Ba Lan độc lập trên lãnh thổ bị Nga Hoàng chiếm đóng. Đổi lại, Pilsudski giúp đỡ tổ chức các đơn vị Ba Lan trực thuộc bộ chỉ huy của hai nước này.
Năm 1917, cách mạng Tháng Mười bùng nổ, khiến Nga không có khả năng tiếp tục tham chiến. Phía bên kia Phổ và Áo bắt đầu bại trận. Trong tình hình đó, Pilsudski khuyến khích các binh lính Ba Lan từ chối tuyên thệ trung thành với nước Đức. Việc đó khiến 3.300 binh lính Ba Lan bị quản thúc, 3.500 binh sĩ khác ở phía tây bị sát nhập vào quân đội Áo-Hung và đưa sang Ý. Bản thân Pilsudski bị bắt sang Đức và giam giữ tại pháo đài Magdenburg. Đồng thời hai đế quốc đã thảo thuận lập ra một “Hội đồng Đại diện” (Rada Regencyjna) gồm một số người Ba Lan khác để lo việc độc lập. Nhưng bấy giờ nước Đức nổ ra bạo loạn vô sản.
Một hôm bỗng nhiên có hai sĩ quan mặc thường phục xuất hiện ở pháo đài Magdenburg đưa Pilsudski về Berlin, lên chuyến tầu đặc biệt đi Vacsava! Pilsudski về đến Vacsava hôm trước thì hôm sau “Hội đồng Đại diện” trao cho toàn quyền chỉ huy quân đội. Đó là ngày 11 tháng 11 năm 1918.
Nguyên nhân việc phóng thích Pilsudski hình như là sự lo ngại của bộ tổng tham mưu Đức trước nguy cơ hợp nhất cách mạng vô sản Đức và cách mạng vô sản Bol-sê-vích. Việc ấy sẽ không thể xẩy ra nếu có một nước Ba Lan độc lập ở giữa ngăn cách. Đến khi chính phủ Đức dẹp được loạn cộng sản, hối lại thì nền độc lập của Ba Lan đã trở thành việc đã rồi.
Đến tận năm 1937, tức hai năm sau khi Pilsudski mất, Ba Lan mới lấy ngày này làm quốc khánh. Tiếc rằng chỉ kỷ niệm được hai lần thì thế chiến thứ hai bùng nổ. Chiến tranh kết thúc, chính quyền cộng sản đã thay quốc khánh bằng ngày khác. Đến năm 1981, khi chế độ cộng sản ở Ba Lan đã đổ, quốc hội lại phê chuẩn lấy lại 11 tháng 11 làm quốc khánh. Ngày này nhân dân Ba Lan được nghỉ việc.
Trương Đình Toe (Sưu tầm)
queviet.pl