Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

SÀN DẦU KHÍ IRAN

02/11/2009 19 phút đọc BBT
Krassimir Petrov tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Đại học Quốc gia Ohio (Mỹ). Ông đang giảng dạy môn Kinh tế và
SÀN DẦU KHÍ  IRAN

Krassimir Petrov tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Đại học Quốc gia Ohio (Mỹ).

Ông đang giảng dạy môn Kinh tế và Tài chính ở American University (Bulgari) và có ý định làm việc tại Dubaj hoặc ở các nước tiểu vương Ả Rập.

Bài này được tác giả viết từ năm 2006, trước cơn khủng hoảng tài chính ở Mỹ nhưng cho đến nay nó vẫn mang tính thời sự.

Quê Việt xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

I. Kinh tế của các đế quốc

Nhà nước thì thu thuế các công dân của mình, còn các đế quốc đánh thuế các nước nước khác. Lịch sử các đế chế, từ Hylạp , La Mã đến Ottoman-Thổ Nhĩ Kỳ và cả Anh Quốc, chỉ ra rằng, cơ sở kinh tế của mỗi đế chế , không một ngoại lệ, chính là đánh thuế các dân tộc khác. Khả năng áp đặt thuế của các đế quốc dựa vào tương quan mạnh hơn, tốt hơn về kinh tế- do đó tốt hơn và mạnh hơn về quân sự. Một phần thuế thu được dùng để nâng cao mức sống người dân của đế quốc; phần khác được chi cho việc củng cố thế áp đảo quân sự nhằm áp đặt việc thu thuế.

Lịch sử cho thấy, các nước chư hầu cống nộp dưới nhiều hình thức-thường thì vàng, bạc, nhưng cũng có khi nộp nô lệ, quân lính , nông sản, gia súc, các sản phẩm và tài nguyên tuỳ theo nhu cầu của đế quốc và khả năng của chư hầu. Trước đây việc cống nộp cho đế chế bao giờ cũng trực tiếp: các nước chư hầu giao thẳng của cải vật chất cho đế quốc.

Vào thế kỷ XX, lần đầu tiên trong lịch sử, Mỹ đã thành công trong việc bổ thuế thế giới không trực diện- mà qua lạm phát. USA không đòi cống nộp thẳng như các đế quốc trước mà đã cho lưu hành khắp thế giới chính đồng tiền của mình- những đồng dollar- để đổi lấy hàng hóa - với ý đồ lạm phát và phá giá chúng. Nó cho phép chuộc lại mỗi dollar sau bằng một lượng vật chất ít hơn. Chính sự khác nhau này [ giữa lượng của cải nhập khẩu và xuất khẩu ] là thứ thuế chảy vào Mỹ. Sự việc xảy ra như sau.

Đầu thế kỷ XX nền kinh tế Mỹ đã đạt vị trí hơn trội trên thế giới. Dollar Mỹ lúc đó gắn chặt với vàng, cho nên giá trị của nó không lên, cũng chẳng xuống mà luôn chỉ bằng lượng vàng nhất định. Cuộc Đại Khủng hoảng cùng sự lạm phát trước đó vào những năm 1921-1929 và sự thâm hụt ngân sách vào những năm sau đã làm tăng đáng kể số lượng tiền trong lưu hành - tiếp tục giữ giá trị tiền bằng vàng trở nên không thể được. Cho nên năm 1932 Roosevelt cho từ bỏ việc giữ quy đổi giá trị dollar ra vàng. Cho đến lúc ấy USA tuy có trội hơn thế giới thật, nhưng về kinh tế vẫn chưa phải là đế quốc. Giá trị cố định của dollar và sự quy đổi ra vàng không cho phép người Mỹ bóc lột kinh tế các nước khác.

Mỹ trở thành đế quốc theo nghĩa kinh tế tại Bretton Woods năm 1945. Lúc đó dollar tuy đã không quy đổi hoàn toàn ra vàng được, nhưng sự quy đổi đó cũng được đảm bảo cho chính phủ các nước khác và chỉ những nước ấy. Cũng từ đây dollar trở thành ngoại tệ dự trữ của cả thế giới. Điều này có được vì trong Chiến tranh Thế giới thứ II Mỹ cung cấp cho Đồng minh và đòi trả bằng vàng, nhờ đó thu về một lượng lớn trữ lượng vàng của thế giới. Đế quốc sẽ không thể tồn tại, nếu như tuân theo các nghị quyết ở Bretton Woods, sự phát hành dollar phải hạn chế và không vượt quá số vàng đang có. Nhờ đó có thể đổi hết dollar quay trở lại vàng. Thế nhưng chính sách " đại bác và bơ " những năm 60 mang tính đế quốc điển hình: người ta tăng phát hành đollar liên tục để chi cho chiến tranh Việtnam và dự án " xã hội lớn" của L. B. Johnson. Phần lớn những đồng dollar này được trả cho nước ngoài đổi lấy hàng hoá nhập vào Mỹ không có khả năng mua lại với giá như cũ. Sự tăng số lượng dollar ở nước ngoài do thâm hụt thương mại của Mỹ đồng nghĩa với sự bổ thuế- với thứ thuế lạm phát kinh điển do nhà nước đặt ra cho các công dân, có điều lần này là của USA đánh vào các nước còn lại.

Khi nước ngoài vào những năm 1970-1971 đòi đổi những đồng dollar hiện có ra vàng thì ngày 15.8.1971 chính phủ Mỹ tuyên bố vỡ nợ.

Mặc dù rêu rao trước công luận chuyện "cắt bỏ liên kết giữa dollar và vàng" nhưng trên thực tế việc từ chối không trả nợ bằng vàng là một hành vi phá sản của chính phủ Mỹ. Thực chất lúc đó Mỹ tuyên bố làm đế quốc. Nó thu hút một lượng của cải lớn của thế giới mà không có ý định và khả năng hoàn trả, còn thế giới bất lực đành phải chấp nhận- thế giới đã bị đánh thuế mà không làm gì được.

Từ lúc đó, để Mỹ có thể giữ vai trò đế quốc và tiếp tục thu thuế, phần thế giới còn lại phải tiếp tục chấp nhận bán của cải lấy đồng dollar liên tục mất giá .Cũng phải dự trữ nó ngày càng nhiều. Vậy thì cần phải có lý do để thế giới gom trữ dollar, lý do đó là dầu hỏa.

Đến lúc càng ngày càng rõ là Mỹ không thể mua lại số dollar của mình bằng vàng thì vào năm 1972-1973 họ đã ký một hiệp ước cứng rắn với Arab Saudi : USA sẽ ủng hộ chính quyền hoàng gia Saudi, đổi lại nước này sẽ bán dầu hỏa chỉ bằng dollar. Rồi theo Arab Saudi các nước OPEC cũng làm như vậy. Vì thế giới phải mua dầu hỏa của các nước Ả rập nên phải dự trữ dollar để thanh toán. Thế giới cần dầu hỏa ngày càng nhiều,mà giá dầu ngày càng tăng, cho nên nhu cầu về dollar ngày càng lớn. Tuy rằng dollar đã không quy đổi được ra vàng, nhưng nó quy đổi ra được dầu hỏa. Ý nghĩa kinh tế của hợp đồng trên là giá tri của dollar được bảo đảm bằng dầu hỏa. Chừng nào còn như vậy thế giới cứ phải dự trữ nhiều dollar ,vì cần nó để mua dầu hỏa. Chừng nào dollar còn là phương tiện duy nhất được dùng để thanh toán dầu hỏa thì nó được đảm bảo vị trí áp đảo trên thế giới, và đế quốc Mỹ còn có thể thu thuế cả thế giới. Nếu vì một lý do gì dollar mất sự bảo đảm bằng dầu hỏa, thì đế quốc Mỹ sẽ không tồn tại. Sự sống còn của đế quốc đòi hỏi bán dầu chỉ bằng dollar.Và cần phải phân tán trữ lượng dầu ra các nước độc lập riêng biệt, cho họ không đủ mạnh về chính trị và quân sự để có thể đòi thanh toán dầu hỏa bằng một hình thức nào khác. Nếu ai đòi thanh toán kiểu khác thì cần phải thuyết phục người đó thay đổi ý định bằng cách gây sức ép chính trị hoặc bằng phương tiện quân sự. Người thực sự đòi thanh toán dầu hỏa năm 2000 bằng euro là Saddam Hussein. Lúc đầu yêu cầu của ông bị người ta chê cười, sau đó bị coi nhẹ, nhưng đến khi rõ là ông không đùa thì người ta bắt đầu gây sức ép chính trị để ông đổi ý. Khi các nước khác, như Iran, cũng đòi ngoại tệ khác,trước hết euro và yên , lúc đó dollar bị nguy hiểm thực sự. Tình hình này cần một đòn trừng phạt. Trong chiến dịch " Sốc và kinh hoảng" ở Irak người ta đâu phải vì tiềm năng hạt nhân của Saddam, vì nhân quyền, dân chủ, thậm chí chẳng để chiếm các mỏ dầu, mà là để bảo vệ đồng dollar, qua đó bảo vệ đế quốc của Mỹ. Họ muốn cho thế giới thấy rằng , kẻ nào muốn dùng ngoại tệ khác ngoài dollar để mua dầu lửa, sẽ bị trừng phạt đích đáng để làm gương.

Nhiều người chỉ trích Bush gây chiến để chiếm các mỏ dầu của Irak. Họ không giải thích được tại sao Bush muốn chiếm mỏ dầu- ông ta có thể in dollar ra mà mua bao nhiêu dầu ông muốn. Vậy thì phải có lý do khác khi đánh Irak.

Lịch sử cho thấy rằng đế quốc gây chiến vì hai lý do hợp lý : 1- để tự vệ, hoặc 2- qua chiến tranh đạt được một lợi ích nào đó. Trong trường hợp khác, Paul Kennedy đã chỉ ra một cách điệu nghệ trong cuốn " Sự lớn mạnh và sụp đổ của các cường quốc": chiến tranh làm kiệt quệ kinh tế góp phần làm nó tan rã . Nói theo ngôn ngữ kinh tế, đế quốc muốn gây ra và tiến hành chiến tranh thì cái lợi thu được phải cao hơn phí tổn về quân sự và xã hội. Những ích lợi từ việc chiếm các mỏ dầu của Irak khó mà bù được chi phí quân sự kéo dài nhiều năm . Ông Bush phải đánh Irak là để bảo vệ đế chế của mình. Xác nhận điều này là các sự kiện : hai tháng kể từ khi xâm lược, chương trình " Dầu mỏ đổi lấy lương thực" bị đình chỉ, các tài khoản euro của Irak chuyển lại thành dollar và dầu mỏ lại được bán ra chỉ bằng tiền dollar Mỹ̃. Người ta khôi phục lại uy thế của dollar. Bush đắc thắng bước ra khỏi chiếc phi cơ quân sự và tuyên bố hoàn thành sứ mạng. Ông ta đã bảo vệ được dollar và nền đế quốc Mỹ.

II. Sàn dầu mỏ Iran

Chính quyền Iran rốt cuộc đã chế ra thứ vũ khí "hạt nhân" có thể tiêu diệt chớp nhoáng hệ thống tài chính vốn là nền tảng của đế quốc Mỹ. Vũ khí đó là Sàn Dầu Iran được dự định khai trương tháng 3.2006 . Nó dựa vào cơ cấu thanh toán dầu mỏ bằng euro. Về mặt kinh tế dự án này là mối đe dọa sự bá quyền của dollar lớn hơn những nước cờ của Saddam..Vì trong khuôn khổ của sàn ai muốn đều có thể mua hoặc bán dầu mỏ bằng euro mà chẳng cần qua dollar. Rất có thể trong hoàn cảnh đó hầu hết mọi người sẽ vui lòng tiếp nhận hệ euro để thanh toán. Châu Âu sẽ chẳng cần mua trữ dollar để trả tiền dầu mà dùng chính euro của họ. Thanh toán bằng euro làm cho thứ tiền này trở thành ngoại tệ thế giới có lợi cho châu Âu, bất lợi cho Mỹ. Trung Quốc và Nhật sẽ đặc biệt quan tâm đến sàn mới này,vì nó sẽ làm giảm đáng kể dự trữ dollar khổng lồ và phân bố sang ngoại tệ khác tránh thiệt hại do dollar sụt giá. Một phần dollar họ sẽ tiếp tục giữ, phần khác sẽ bán đi, phần nữa sẽ dùng để thanh toán sau này rồi sẽ không bổ sung dự trữ dollar nữa mà thay dần bằng euro.

Người Nga có lợi ích sống còn về kinh tế để chuyển sang euro- phần lớn họ trao đổi thương mại với các nước châu Âu, các nước xuất khẩu dầu lửa, với Trung Quốc và Nhật Bản. Chuyển sang euro sẽ thấy tiện lợi trong buôn bán với 2 khối đầu và sẽ làm buôn bán dễ dàng hơn với Trung Quốc và Nhật. Nga cũng không muốn trữ dollar mất giá nếu họ bắt đầu thanh toán bằng vàng. Ngoài ra ở Nga đang phục hồi chủ nghĩa dân tộc, chuyển sang euro là cú đấm vào Mỹ và họ sẽ vui lòng chờ xem đế quốc này tóe máu. Các nước Ả Rập xuất khẩu dầu phân bố trữ lượng ngoại tệ bằng euro phòng khi núi dollar của họ bị sụt gíá. Những nước này, giống như Nga, buôn bán chủ yếu với châu Âu nên sẽ ưng đồng euro vì ổn định , hạn chế nguy cơ mất gíá, chưa kể đến lý do tư tưởng- cuộc thánh chiến chống lại Kẻ thù Vô thần.

Chỉ có người Anh rơi vào thế trên đe dưới búa. Mỹ là đối tác chiến lược lâu dài, nhưng Anh bị lực hút tự nhiên của Châu Âu. Từ trước đến nay có nhiều duyên cớ để họ chơi với kẻ mạnh. Nhưng khi thấy đối tác tri kỷ đang suy sụp liệu họ có kề vai sát cánh hay bồi thêm cho chết? Đừng quên rằng hiện nay cả hai sàn dầu đầu bảng- NYMEX ở New York và International Petroleum Exchange-IPE ở London thực tế đều nằm trong tay người Mỹ. Có lẽ người Anh sẽ chìm theo con tàu đắm nếu không họ sẽ hại chính mình ở IPE Cần phải thấy rằng bất kể luận điệu về lý do giữ đồng bảng, người Anh không dùng Euro có lẽ là do Mỹ phản đối, vì khi đó IPE phải chuyền sang euro , giáng đòn chí tử vào dollar và đối tác chiến lược của Anh. Bất kể người Anh quyết định thế nào, nếu Sàn Dầu Iran tăng tốc thì các thế lực kinh tế đáng kể-Âu,Tàu,Nga ,Nhật và Ả rập sẽ hăng hái nhận kiểu thanh toán bằng euro, lúc đó số phận của dollar sẽ được định đoạt. Mỹ không thể cho phép làm như vậy, và nếu cần họ sẽ dùng các phương tiện chiến lược để ngăn chặn hay cản trở hoạt động của cái sàn đang dự tính này.

- Phá hoại sàn- có thể bằng cách gây virus cho máy tính, tấn công mạng,server, hệ thống thông tin, các biện pháp xâm nhập máy chủ, hoặc đánh bom vào các mục tiêu chính của sàn theo kiểu 11.9.

- Đảo chính - chiến lược lâu dài tốt nhất mà Mỹ vốn sẵn có.

- Đàm phán thương lượng các điều kiện và hạn chế hoạt động sàn ở mức chấp nhận được- cũng là một giải pháp tốt đối vớ Mỹ. Dĩ nhiên lật đồ chính phủ là chiến lược ưa thích hơn, vì nó bảo đảm sàn không hoạt động, đẩy lùi nguy cơ đe doạ lợi ích của Mỹ. Nếu phá hoại và đảo chính không thành công thì lúc đó tốt nhất là đàm phán.

- Nghị quyết chung của Liên Hợp Quốc-cái này khó được vì quyền lợi của các nước trong Hội Đồng Bảo An khác nhau. Luận điệu về chuyện Iran chế tạo vũ khí hạt nhân chỉ nhằm mở đường cho mục đích này.

- Đòn hạt nhân đơn phương - một chọn lựa đáng sợ vì những lý do giống như chọn lựa sau- chiến tranh toàn diện đơn phương. Để làm công việc bẩn thỉu này Mỹ chắc sẽ dùng Israel.

- Chiến tranh toàn diện đơn phương - rõ là lựa chọn chiến lược xấu nhất. Thứ nhất, tiềm lực quân sự Mỹ bị thu hẹp do 2 cuộc chiến trước.Thứ hai Mỹ sẽ làm các nước mạnh khác xa lánh họ. Thứ ba, các nước trữ nhiều dollar có thể ngầm trả đũa bằng cách bán bỏ đống dollar làm cho Mỹ khó tiếp tục thực hiện các kế hoạch hung hãn . Cuối cùng, thứ tư, Iran có liên minh chiến lược với các nước mạnh khác, điều này cho phép họ tham chiến; người ta nói rằng Iran liên minh với Trung Quốc, Ắn Độ và Nga dưới cái gọi là Tập đoàn Hợp tác Thượng Hải, rồi cả hiệp ước riêng với Syria nữa. Dù lựa chọn chiến lược nào, có thể khẳng định rằng -thuần túy về kinh tế nếu Sàn Dầu Iran mạnh lên, các cường quốc sẽ tham gia nó kéo theo cái chết của dollar. Dollar rơi sẽ gây lạm phát cao ,ép tăng lãi suất ngân hàng ở Mỹ.Lúc đó FED rơi vào thế giữa Scylla và Charybda- sự de dọa của thiểu phát (deflation) và siêu lạm phát (hiperinflation) và sẽ phải dùng khần cấp liều thuốc kinh điển chống lạm phát bằng cách nâng lãi suẫt ngân hàng, gây ra sự trì trệ kinh tế, làm suy sụp thị trường bất động sản, phá vỡ thị trường chứng khoán, công trái, hậu quả là khủng hoảng toàn phần tài chính , hoặc chọn giải pháp lạm phát, giữ lãi suất thấp, dìm thị trường trong cơn lụt dollar ,cứu các quỹ cho vay dài hạn (LTCM) gây cơn siêu lạm phát.

Học thuyết của Áo về tiền, tín dụng và chu kỳ kinh tế cho ta thấy giữa Scylla và Charybda không có giải pháp trung gian. Sớm hay muộn hệ thống tiền tệ sẽ phải nghiêng về một phía, bắt FED phải quyết định. Tổng chỉ huy Ben Bernanke ( chủ nhiệm mới của FED) ,người am hiểu Đại Khủng hoảng và từng là phi công trực thăng "Black Hawk" cừ khôi, chắc chắn chọn lạm phát. "Trực thăng Ben" tuy không nhớ America's Great Depression của Rothbard, nhưng chắc nhớ rõ những bài học từ cuộc Đại Khủng hoảng và tác hại của thiểu phát. Thầy đã dạy ông rằng thuốc công hiệu cho mọi vấn đề tài chính là gây ra lạm phát bất kể việc gì xảy ra. Ông còn dạy người Nhật những biện pháp khác thường của chính ông để khắc phục ùn tắc tài chính do thiểu phát gây ra. Giống người thầy ông cũng muốn vượt qua "mùa đông Kondratiew". Để tránh lạm phát âm ông sẽ in thêm tiền, triệu hồi các trực thăng từ 800 căn cứ quân sự Mỹ; và nếu cần ông sẽ đặt giá trị cố định cho tất cả những gì qua tay ông. Kết cục cuối cùng của ông sẽ là sự hủy hoại lạm phát của đồng tiền Mỹ mà từ tro tàn của nó sẽ hình thành một ngoại tệ mới của thế giới - cái di sản từ thời hoang dại, tên gọi là vàng.

Krassimir Petrov

Người dịch : Nguyễn Thái Dương

Nguyên bản:

Published Jan 17 2006 by Energy Bulletin

Archived Jan 17 2006

The Proposed Iranian Oil Bourse

by Krassimir Petrov (Krassimir_Petrov@hotmail.com)




Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu