Một giám đốc điều hành tập đoàn tin học FPT Việt Nam, được báo trên mạng businessweek.com trích dẫn, phấn khởi khẳng định là nhân công lao động tại Việt Nam là rất rẻ, rẻ nhất. Theo ông, thì Việt Nam đã sẵn sàng trong cuộc cạnh tranh và cố gắng trở thành một trong những trung tâm thu hút đầu tư ngoại quốc.
Thực ra, giới doanh nhân ngoại quốc đã nghe thấy những phát biểu như vậy cách nay hai thập niên, khi Việt Nam bắt đầu mở cửa ra bên ngoài. Thế nhưng, sự hồ hởi càng cao bao nhiêu thì thất vọng lại càng nhanh chóng bấy nhiêu.
Sau khi Hoa Kỳ bỏ cấm vận kinh tế, năm 1994, các công ty của phương Tây, những tập đoàn lớn như Coca-Cola, Procter & Gamble, đã đổ xô vào thị trường Việt Nam nhưng nhiều doanh nghiệp đã phải sớm thoái lui trước nạn quan liêu, tham nhũng, môi trường đầu tư không bảo đảm, phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp nước ngoài và Việt Nam, cơ sở hạ tầng thiếu thốn.
Tuy nhiên, tình hình trong những năm vừa qua đã có những chuyển biến. Lần này, dường như Việt Nam tỏ ra quyết tâm hơn. Năm 2007, Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Chính phủ cắt giảm nhiều loại thuế, ví dụ thuế nhập khẩu các thiết bị máy tính cá nhân, đưa ra những dự án phát triển cầu cảng, xây dựng nhà máy lọc dầu, nhà máy điện nguyên tử v.v..
Với gần 90 triệu dân, Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ lao động trẻ cao nhất trên thế giới. Xuất khẩu sang Hoa Kỳ, thị trường lớn nhất của Việt Nam, đạt mức 12,3 tỷ đô la trong năm 2009. Đầu tư ngoại quốc không ngừng tăng và có thể tăng gấp đôi trong năm nay, lên đến 15 tỷ đô la.
Cuối năm, tập đoàn tin học Intel sẽ xây dựng một cơ sở kiểm tra chất lượng và lắp ráp, trị giá một tỷ đô la gần thành phố Hồ Chí Minh. Đầu tháng bẩy, ông Arthur Chaio, chủ tịch tập đoàn Điện tử Đài Loan (Taiwan Electronic & Electrical Appliances Assn.) cho biết sẽ giúp các doanh nghiệp Đài Loan tìm kiếm những cơ sở đầu tư tại Việt Nam do có các vụ bất ổn xã hội và đình công tại Trung Quốc.
Căng thẳng chính trị tại Thái Lan cũng buộc các doanh nghiệp nước ngoài phải hướng nhìn sang Việt Nam để tìm kiếm cơ hội. Giám đốc phụ trách châu Á của công ty Polycom, có trụ sở tại Pleasanton, California, cho biết là Thái Lan cung cấp đến 80% các thiết bị video-hội nghị cho tập đoàn này. Thế nhưng, do tình hình chính trị Thái Lan, tập đoàn đang phải xem xét những kế hoạch khẩn cấp và Việt Nam là một trong những giải pháp thay thế.
Nhìn trong tổng thể, không một ai cho rằng Việt Nam có thể thay thế Trung Quốc trong vai là “công xưởng thế giới” bởi vì quy mô nền kinh tế Trung Quốc rất lớn và cơ sở hạ tầng phát triển cao hơn Việt Nam nhiều. Ông Dan Berman, giám đốc công ty Langton, có trụ sở tại Hồng Kông, chuyên cung cấp đồ chơi, nhận định là cho dù giá thành sản xuất có thể tăng tại những cơ sở ở phía nam Trung Quốc, nhưng các doanh nghiệp vẫn có thể tìm được những sản phẩm thay thế giá rẻ ở những nơi khác, như tại Thanh Đảo, Thiên Tân, phía bắc Trung Quốc.
Trong khi đó, ông Don Lam, giám đốc điều hành tập đoàn đầu tư Vina Capital Group, lập luận rằng với dự án đường bộ cao tốc nối liền miền bắc Việt Nam với miền nam Trung Quốc, giá nhân công rẻ chỉ bằng một phần ba bên Trung Quốc, các doanh nghiệp Việt Nam có thể cạnh tranh và trở thành một mắt xích trong hệ thống cung cấp sản phẩm của Trung Quốc.
Các cuộc đình công đòi tăng lương tương tự như tại các cở sở của Honda, Foxconn, Toyota bên Trung Quốc, sẽ còn làm cho chênh lệnh chi phí nhân công giữa hai nước ngày càng lớn. Do vậy, đã đến lúc các doanh nghiệp nước ngoài phải di chuyển cơ sở đầu tư sang Việt Nam.
Theo giới chuyên gia kinh tế, nhân công giá rẻ chỉ là một trong những lợi thế tương đối trong cạnh tranh và có tác dụng nhất thời, không phải là yếu tố bảo đảm sự phát triển bền vững. Trong bối cảnh chênh lệnh giàu nghèo ngày càng lớn, không thể tiếp tục trả lương thấp cho công nhân.
Cùng với sự phát triển kinh tế, mô hình Trung Quốc cho thấy giá nhân công rẻ mạt cũng chính là một trong những nguyên nhân gây ra bất bình, bất ổn xã hội.
Đức Tâm (RFI)