Mặc dù có mức tăng trưởng ấn tượng, nhưng khi so với khối doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và DN FDI, thì DN tư nhân ở Việt Nam vẫn thật khiêm tốn, thậm chí bị “chê” là chậm tiến bộ.
Đầu năm nay, nhóm nghiên cứu gồm ông Lê Duy Bình, chuyên gia kinh tế Economica Vietnam và ông Đậu Anh Tuấn, chuyên gia phân tích chính sách của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam đã công bố kết quả đánh giá nhanh chất lượng hoạt động của DN tư nhân trong thập kỷ qua.
Bật mạnh về số lượng
Từ năm 2000 đến nay, số DN tư nhân Việt Nam ra đời nhiều “chóng mặt”. Nếu như năm 2000, cả nước mới chỉ có 14.482 DN được thành lập, thì đến năm 2009, con số này đã là 83.000 DN. Số DN sinh ra trong 1 năm giờ đã gấp 5,7 lần so với số DN sinh ra trong 1 năm ở giai đoạn 10 năm trước.
Tính tới tháng 12/2009, cả nước đã có tới 460.000 DN đăng ký thành lập. Theo Tổng cục Thống kê vừa công bố, 6 tháng đầu năm nay, thêm 41.900 DN mới được ra đời. Như vậy, đến thời điểm này, cả nước đã có 501.900 DN và đạt “con số phấn đấu” mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong nhiều cuộc đối thoại với dân doanh đã nhắc tới.

Lẽ dĩ nhiên, với việc mỗi năm, hàng chục nghìn DN được thành lập thì khu vực kinh tế tư nhân này đang tạo ra việc làm nhanh nhất trong các khu vực kinh tế.
Năm 2000, hơn 31.000 DN tư nhân tạo ra được hơn 850.000 việc làm, chiếm 24,28% tổng số việc làm tạo ra trong khu vực DN chính thức và bằng 65% số lượng việc làm mà riêng các DNNN Trung ương tạo ra.
9 năm sau, các DN tư nhân tạo ra được 4,3 triệu việc làm, chiếm hơn 54% tổng số việc làm của các DN chính thức tạo ra và gấp gần 4 lần tổng số việc làm mà các DNNN Trung ương tạo ra.
Ngoài ra, mức thu nhập bình quân của người lao động trong các DN tư nhân tăng lên trong giai đoạn này cũng cao hơn rất nhiều so với doanh nghiệp FDI, ở mức 3,9 lần so với 1,7 lần của các doanh nghiệp FDI, kéo gần khoảng cách về thu nhập giữa 2 khu vực kinh tế này. Hiện nay mức lương trung bình của DN trong khu vực tư nhân đạt 33 triệu đồng/năm so với mức 34 triệu đồng/năm của các DN FDI.
Hiệu quả đồng vốn được cải thiện đáng kể
Những chỉ số “vàng” để soi rõ nhất chất lượng DN, đó là hiệu suất sử dụng nguồn lực và tài chính. Với khối DN tư nhân, 10 năm qua, nhiều chỉ số đã được cải thiện rất “ấn tượng”.
Báo cáo của nhóm nghiên cứu cho hay, tổng vốn chủ sở hữu của các DN tư nhân đã tăng 17 lần, tăng từ khoảng 38,7 ngàn tỷ đồng (năm 2000) lên tới 657 ngàn tỷ đồng (năm 2008). Tính trung bình, vốn chủ sở hữu bình quân một DN dân doanh hiện nay đạt 5,2 tỷ đồng so với 1,2 tỷ đồng vào năm 2000.
Cũng trong giai đoạn 2000-2008, doanh thu thuần của DN tư nhân tăng 15 lần, lợi nhuận tăng 27 lần, tổng tài sản tăng 24 lần. Những tính toán này đã cho thấy, việc sử dụng nguồn vốn đầu tư trong các DN tư nhân là hiệu quả.
Nếu tính trung bình khả năng tạo ra lợi nhuận của một DN tư nhân, năm 2000, khả năng này là 54 triệu đồng nhưng đến năm 2008, con số lợi nhuận này đã tăng lên gấp 5 lần là 258 triệu đồng.
Điều này cũng thể hiện rằng, hiệu quả về hoạt động tài chính cũng như khả năng tạo ra lợi nhuận trên mỗi đồng vốn đầu tư của các DN trong khu vực tư nhân đã được cải thiện đáng kể.
Đặc biệt, so sánh với DNNN và FDI, doanh thu, lợi nhuận, nguồn vốn chủ sở hữu, thu nhập trung bình của người lao động trong DN tư nhân có tỷ lệ tăng trưởng lớn hơn rất nhiều. Nếu như, vốn chủ sở hữu, tổng tài sản và doanh thu của DN tư nhân tăng từ 15 – 24 lần nhưng với DN Nhà nước và FDI, mức tăng này chỉ là từ 3 đến 5 lần.

Nhưng vẫn “lép vế”
Mặc dù DN tư nhân đã có bứt phá lớn như vậy và trở thành khu vực kinh tế năng động số 1 hiện nay, nhưng các so sánh của nhóm nghiên cứu lại cho thấy, sự nỗ lực cải thiện ấy vẫn “thua xa” so với khối những DNNN và FDI. Những chỉ số quan trọng về tài chính ở khối DN tư nhân lại có tốc độ cải thiện thấp hơn so với các DNNN và doanh nghiệp FDI.
Trong khi các DN tư nhân chỉ có thể cải thiện được mức tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu từ 4,4% vào năm 2000 lên 7,1% vào năm 2008, thì DNNN đã tăng được từ 7,9% lên 12,4% và doanh nghiệp FDI từ 19,8% lên 23,9% trong cùng giai đoạn này.
Tương tự, lợi nhuận trung bình của một DN tư nhân là 258 triệu đồng, gấp 4,7 lần so với năm 2005. Trong khi đó, với khối DNNN, lợi nhuận trung bình lên tới 29.964 triệu đồng, gấp 9,8 lần. Mức độ cải thiện về quy mô của DN tư nhân cũng không theo kịp mức cải thiện về quy mô của doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác.
Mặc dù quy mô vốn chủ sở hữu trung bình của một DN tư nhân được tăng gấp 3 lần trong giai đoạn 2005 – 2008 lên khoảng 3,6 tỷ đồng/ DN, nhưng con số này là quá khiêm tốn so với mức trung bình là 242 tỷ/ DNNN hay 76 tỷ đồng/ 1 DN FDI. Điều này khiến cho các DN tư nhân ngày càng trở nên nhỏ bé hơn về quy mô trung bình khi so sánh tương đối với quy mô của các DNNN và các DN FDI.
Ngay trong Top 500 doanh nghiệp lớn nhất của Vietnam Report và VietnamNet công bố vào năm 2009, chỉ có 28,9% các DN lớn là DN tư nhân. Trong danh sách 200 DN lớn của UNDP công bố, chỉ có 17 DN là DN tư nhân. Và trong cả hai trường hợp, đa phần trong số đó là DN cổ phần hóa.
Còn theo đánh giá của Tổ công tác thi hành Luật DN 2005 của Chính phủ, trên 80% DN tư nhân VN có quy mô nhỏ, vốn dưới 5 tỷ đồng và sử dụng dưới 50 lao động. Nếu so với chuẩn mực quốc tế, DN nhỏ có số lao động dưới 500 người thì các DN nhỏ của Việt Nam là người tí hon của nền kinh tế.
Các tác giả nghiên cứu đúc rút rằng, những con số này đã cho thấy Việt Nam đang thiếu các DN tư nhân lớn để có thể là chỗ dựa cho Nhà nước khi trển khai những chính sách phát triển kinh tế và thiếu những DN cỡ vừa để chuẩn bị sẵn sàng đảm đương vai trò này.
Sẽ thật khập khiễng và rất khó để so sánh chất lượng hoạt động của khối DN tư nhân chỉ mới thực sự bùng nổ trong 10 năm phát triển, với DNNN đã có tuổi đời 20-30 năm, được nuôi lớn bằng đồng vốn Ngân sách, hay với những DN FDI đến từ các quốc gia phát triển, sở hữu những dự án tỷ USD. Chưa kể, khối DNNN và thậm chí là DN FDI ở Việt Nam, lại có những lợi thế so sánh, những ưu thế tuyệt đối so với khu vực DN tư nhân.
Tuy nhiên, những phát hiện của nhóm nghiên cứu này có thể sẽ là chỉ số tham khảo đáng quí cho chính mỗi doanh nhân hay các nhà hoạch định chính sách trả lời cho câu hỏi làm gì để kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực của tăng trưởng quốc gia.
Phạm Huyền (Vietnamnet)
Nhìn từ góc độ quản trị doanh nghiệp, nhóm nghiên cứu cho rằng, các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam còn vướng 4 điểm cơ bản: Đó là hình thức điều hành doanh nghiệp vẫn mang nặng tính gia đình; Thiếu chiến lược dài hạn; Thiếu minh bạch, thiếu công khai về quản lý tài chính và thiếu động lực để minh bạch hoá; Hoạt động nghiên cứu và phát triển và chuyển giao công nghệ tại các doanh nghiệp tư nhân còn hạn chế.