Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Không thể mãi "ca" bài "có tiến bộ một bước"

10/09/2010 9 phút đọc Diệp Văn Sơn
Cuộc sống đang đòi hỏi phải thay đổi tư duy trong đánh giá lâu nay, đánh giá thiếu khoa học chỉ dựa vào cảm tính, không
Không thể mãi "ca" bài "có tiến bộ một bước"

Cuộc sống đang đòi hỏi phải thay đổi tư duy trong đánh giá lâu nay, đánh giá thiếu khoa học chỉ dựa vào cảm tính, không lượng hóa, theo kiểu chung chung "có tiến bộ một bước" , "cần tăng cường", "nỗ lực thêm"...

 

Lần đầu tiên, công tác xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật của 14 bộ được 124 hiệp hội đại diện cho 77.000 DN trong cả nước "chấm điểm". Việc "chấm điểm" dựa trên các tiêu chí: tinh thần cầu thị, mức độ minh bạch chính sách, khả năng tiếp cận thông tin của DN... Trong số 14 bộ ngành được đánh giá, không có bộ nào được xếp mức tốt trở lên - kết quả này do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ngày 8/9 chính thức công bố sau khi đánh giá chất lượng hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật của các bộ liên quan đến doanh nghiệp (LDEA), giai đoạn 2005-2009.

 

Đây là một nỗ lực đáng trân trọng. Đương nhiên có thể còn có ý kiến này ý kiến khác về các tiêu chí, cách làm và chọn đối tượng... nhưng phải thấy rằng cuộc sống đang đòi hỏi phải thay đổi tư duy trong đánh giá lâu nay. Đánh giá  thiếu khoa học chỉ dựa vào cảm tính, không lượng hóa, theo kiểu  chung chung "có tiến bộ một bước" , "cần nỗ lực thêm"...Cuối cùng không ai biết một bước nữa là đến đâu, nỗ lực cái gì !? Năm nào cũng vậy cũng bấy nhiêu đấy ,thiếu động lực và phương hướng phấn đấu để cải thiện thực trạng...

 

Ở đây mới chỉ là góc nhìn của doanh nghiệp đối với các Bộ, còn rộng ra cần thiết đánh giá hoạt động toàn bộ máy công quyền dưới góc nhìn của toàn cộng đồng, đánh giá mang tính quốc gia.

 

 

Chấm điểm các Bộ mang tính quốc gia

 

Tại các kỳ hop Quốc hội, Quốc hội thường tâp trung thảo luận Báo cáo của Chính phủ. Các vị đại biểu đã nêu nhiều ý kiến xác đáng đánh giá nội dung báo cáo....

 

Lâu nay người dân, công luận và kể cả Quốc hội chỉ biết hoạt động của Chính phủ Chính quyền thông qua các báo cáo 6 tháng, báo cáo hàng năm và báo cáo cuối nhiệm kỳ của Chính phủ đọc trước Quốc hội, HĐND. Qua các báo cáo có thể rút ra những kết luận, các đánh giá hoạt động của Chính phủ trong năm, trong suốt nhiệm kỳ... Tuy nhiên cách làm có tính thông lệ này dù sao cũng làm cho các đánh giá mang nặng cảm tính, có phần hình thức.

 

Thông thường để đánh giá hoạt động của chính phủ, chính quyền người ta tiến hành đánh giá hiệu quả của Chính phủ. Hiệu quả của chính phủ là hiệu quả thu được trong hoạt động quản lý của chính phủ (khái niệm chính phủ nói đây bao gồm các cơ quan chính phủ chính quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng thuộc chính phủ).

 

Hiệu quả của chính phủ chính quyền được thể hiện trên ba mặt và thông qua bốn nội dung. Ba mặt là: kinh tế (tức là chi phí thấp), hiệu suất và hiệu ích. (Tiếng Anh là economy, efficiency, effectiveness). Bốn nội dung là: chi phí, đầu tư, sản xuất, hiệu quả.

 

Ở một số nước người ta đã luật hoá việc đánh giá hiệu quả của chính phủ.

 

Ở các nước phương Tây, việc đánh giá hiệu quả các chính phủ chính quyền trên quy mô lớn được bắt đầu từ thập kỷ 70 của thế kỷ 20. Năm 1973, Chính phủ Mỹ đã công bố "Phương án xác định hiệu suất công tác của chính phủ liên bang" nhằm hệ thống hoá, quy phạm hoá, thường xuyên hoá việc đánh giá hiệu quả các tổ chức công cộng. Theo phương án này, cơ quan hữu quan đã đề ra hơn ba ngàn tiêu chí để cục thống kê lao động tiến hành thống kê và phân tích hiệu quả công tác của các cơ quan chính phủ.

 

Năm 1993, chính phủ lại công bố "Luật hiệu quả và kết quả chính phủ", yêu cầu các cơ quan của chính phủ liên bang xây dựng quy hoạch chiến lược 5 năm về sứ mệnh và mục tiêu dài hạn của mình, xây dựng kế hoạch hàng năm về quản lý hiệu quả thực hiện mục tiêu chiến lược, định kỳ đánh giá hiệu quả công tác của cơ quan mình và báo cáo với quốc hội, với công chúng. Từ đó, việc đánh giá hiệu quả các tổ chức của chính phủ đã được thể chế hoá.

 

 

Trong phong trào cải cách hành chính bắt đầu từ thập kỷ 80 của thế kỷ 20, việc đánh giá hiệu quả các tổ chức của chính phủ rất được coi trọng. Anh là nước dẫn đầu trong việc này. Việc đánh giá hiệu quả chính phủ đã trở thành một công việc quan trọng của chính phủ của bà Thatcher nhằm khắc phục chủ nghĩa quan liêu, nâng cao hiệu quả quản lý hành chính.

 

Từ năm 1979, chính phủ Anh bắt đầu thực hiện kế hoạch Rana. Đó là kế hoạch đánh giá toàn diện, hiệu quả các tổ chức chính phủ và tổ chức công cộng, là cơ sở để thực hiện đề án cải cách hành chính của bà Thatcher. Bộ Tài chính Anh đã phát huy vai trò đôn đốc, hướng dẫn quá trình đánh giá. Năm 1989, Bộ này đã phát hành cuốn "Hướng dẫn kỹ thuật đánh giá hoạt động và hiệu quả của chính phủ trung ương" để hướng dẫn việc thiết lập và hoàn thiện cơ chế đánh giá về mặt nghiệp vụ và kỹ thuật. Từ đó, việc đánh giá hiệu quả các tổ chức của chính phủ ở Anh đã từng bước được phổ cập hoá, quy phạm hoá, hệ thống hoá, khoa học hoá.

 

Việc đánh giá hiệu quả các tổ chức công cộng của chính phủ cũng đã được thực hiện ở các nước phương Tây khác. Chính phủ Hà Lan đã ban hành đạo luật mới về quản lý đô thị, yêu cầu đánh giá hiệu quả công tác của chính quyền địa phương. Ở Australia, việc đánh giá hiệu qủa các tổ chức công cộng của chính phủ được thực hiện qua những chương trình cải cách cụ thể như kế hoạch cải tiến quản lý tài chính, quản lý dự án, cải cách ngân sách.

 

Việc xây dựng tiêu chí đánh giá, phương án đánh giá hiệu quả trở thành một bộ phận trong kế hoạch công tác của các cơ quan chính phủ, được chính thức đưa vào dự toán tài chính hàng năm của các cơ quan và thông báo công khai.

 

Theo báo cáo của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), việc đánh giá hiệu quả các tổ chức công cộng cũng đã được thực hiện rộng rãi ở Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy, New Zealand.

 

Định lượng cơ sở đánh giá

 

Để đánh giá một cách chính xác, khoa học, người ta đưa ra các tiêu chí định lượng làm cơ sở đánh giá.

 

Đánh giá tính kinh tế, đây là sự đánh giá tính hợp lý về chi phí. Hình thức đánh giá tính kinh tế trong quản lý thường là: Đánh giá tỷ lệ giữa chi phí và kết quả, tỷ lệ giữa chi phí hành chính và chi phí thực hiện nghiệp vụ, chi phí phục vụ tính theo đầu người thụ hưởng,...

 

Đánh giá hiệu suất, đây là sự đánh giá tỷ lệ giữa chi phí đầu tư và kết quả thu được.

 

Thí dụ, để đánh giá hiệu quả công tác của cảnh sát, người ta có thể sử dụng tiêu chí như: tỷ lệ phá án trong tổng số các vụ án hình sự, tỷ lệ phá án trong tổng số các vụ án bạo lực, tỷ lệ phá án trong tổng số các vụ trộm, số vụ án khám phá được tính bình quân cho mỗi nhân viên cảnh sát.

 

Đánh giá hiệu ích, nội dung đánh giá hiệu ích bao gồm đánh giá chất lượng, đánh giá hiệu ích xã hội, mức độ hài lòng của công dân.

 

Thông qua các tiêu chí đánh giá hiệu quả của chính phủ, người ta thấy xu thế hiện nay hoạt động của chính phủ đã chuyển đổi.

 

Đặc trưng của mô thức quản lý truyền thống là chính phủ nắm độc quyền quản lý, quyền lực tập trung cao độ, quy chế nghiêm ngặt, cơ chế quản lý là cơ chế khống chế. Quan điểm mới về quản lý của chính phủ chủ trương thị trường hoá, xã hội hoá dịch vụ công cộng, nhấn mạnh việc phi tập trung hoá quyền lực, định hướng theo kết quả đầu ra, lấy việc phục vụ khách hàng làm gốc.

 

Quan điểm quản lý theo kết qủa đầu ra đòi hỏi "căn cứ vào định hướng hiệu quả đầu ra để đầu tư kinh phí". Muốn vậy thì phải đánh giá hiệu quả quản lý. Mô thức quản lý truyền thống không đánh giá hiệu quả nên hiệu quả thấp. Do đó, phương thức quản lý hiện đại muốn có hiệu quả thì phải đánh giá hiệu quả quản lý một cách nghiêm túc.

 

Một nhà nước của dân do dân vì dân, thông qua đánh giá, công chúng có thể có được sự lựa chọn chính xác, tạo ra sức ép đối với tổ chức công cộng, công chức buộc họ phải nâng cao chất lượng phục vụ và hiệu quả công tác. Việc đánh giá hiệu quả các tổ chức công cộng của chính phủ sẽ tạo ra sự so sánh theo chiều ngang - chiều dọc và không khí cạnh tranh, thúc đẩy nâng cao chất lượng phục vụ và hiệu quả công tác, thật sự chuyển từ chức năng cai trị sang chức năng phục vụ .Đến một lúc nào đó việc đánh giá  phải được luật hóa, hệ thống hoá, quy phạm hoá, thường xuyên hoá việc đánh giá hiệu quả các tổ chức bộ máy công quyền ./.

 

Diệp Văn Sơn (Tuần Việt Nam)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu