Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Ngân hàng Việt Nam có nên đi trước về vốn dự trữ?

20/09/2010 8 phút đọc Trí Dũng thực hiện
"Lộ trình thực hiện Basel III được thiết kế chi tiết kéo dài và chỉ phải thực hiện đầy đủ toàn bộ kể từ 1/1/2019.
Ngân hàng Việt Nam có nên đi trước về vốn dự trữ?

 "Lộ trình thực hiện Basel III được thiết kế chi tiết kéo dài và chỉ phải thực hiện đầy đủ toàn bộ kể từ 1/1/2019. Liệu Việt Nam có nên và có thể vượt trước cả Basel III hay không là điều mà các nhà hoạch định chính sách cần nghiên cứu thêm".

 

Đây là ý kiến của TS. Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia khi trao đổi với PV. VNR500 quanh một số vấn đề liên quan đến Thông tư 13/2010/TT-NHNN (Thông tư 13).

- Ủy ban Basel vừa có quy định mới về chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu, ông có thể cho biết cụ thể quy định này và liên hệ với quy định an toàn vốn của Thông tư 13 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam?

 

- TS. Lê Xuân Nghĩa: Thông tư 13 ban hành ngày 20/5/2010 của NHNN là nhằm thay thế Quyết định 457 ban hành ngày 19/4/2005, với một số bổ sung sửa đổi gần hơn với thông lệ quốc tế về an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng. Có thể coi đây là một bước tiến bộ quan trọng về tư duy giám sát an toàn hoạt động tài chính.

 

Tuy nhiên, Thông tư 13 có những quy định thậm chí vượt trước cả chuẩn mực quốc tế tốt nhất về chỉ tiêu an toàn và lộ trình thực hiện.

 

Ví dụ, quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR = vốn ngân hàng/tài sản có điều chỉnh rủi ro) riêng lẻ và hợp nhất 9%, trong khi quy định mới nhất được công bố ngày 12/9/2010 của Hội đồng các ngân hàng trung ương và các cơ quan giám sát tài chính của Ủy ban Basel (Basel III) vẫn chỉ là 8%.

 

Ông Lê Xuân Nghĩa (ảnh TT)

Điểm mới của Basel III là nâng cao vốn tự có cấp 1 (bao gồm vốn cổ phần phổ thông và dự trữ được công bố) lên 6% (cũ là 4%), trong đó vốn cổ phần phổ thông (tương tự vốn điều lệ của Việt Nam) phải đạt 4,5% với lộ trình bắt đầu thực hiện từ đầu năm 2015.

 

Như vậy, chỉ riêng vốn cấp 1 thì các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện tại (chưa theo Thông tư 13) đã vượt cả chuẩn mực mới nhất của Basel III (đều đã đạt 8% trở lên).

 

Nếu coi tỷ lệ vốn cấp 1 trên tổng tài sản có rủi ro là cam kết trách nhiệm của các cổ đông Ngân hàng với rủi ro kinh doanh, thì mức cam kết của các ông chủ ngân hàng Việt Nam đã cao hơn các ông chủ ngân hàng các nước phát triển rồi.

 

Đáng tiếc là các ngân hàng Việt Nam rất ít vốn cấp 2 (dự trữ không được công bố, dự trữ tài sản đánh giá lại, dự phòng chung/dự phòng tổn thất cho vay chung, các công cụ vốn, nợ thứ cấp) do không định kỳ đánh giá lại tài sản hoặc không huy động trái phiếu dài hạn.

 

Ngoài ra, Basel III còn quy định các ngân hàng phải trích lập một loại quỹ tương tự quỹ dự phòng bổ sung vốn tự có nhằm chống lại rủi ro khi chu kỳ kinh tế đi xuống hoặc tăng trưởng tín dụng quá nóng với lộ trình bắt đầu từ năm 2016 với mức khởi điểm 0,625%, và đến 2019 phải đạt 2,5% trên tổng tài sản có rủi ro được điều chỉnh.

 

Lộ trình thực hiện Basel III được thiết kế chi tiết kéo dài và chỉ phải thực hiện đầy đủ toàn bộ kể từ 1/1/2019. Liệu Việt Nam có nên và có thể vượt trước cả Basel III hay không là điều mà các nhà hoạch định chính sách cần nghiên cứu thêm.

 

- Basel III có quy định nào về hạn chế tín dụng giống Điều 18  trong Thông tư 13 không?

 

- Điều 18 của thông tư 13 quy định: Tổ chức tín dụng chỉ được sử dụng 80% vốn huy động (85% đối với tổ chức tín dụng phi ngân hàng) để cấp tín dụng, trong khi đã phải tuân thủ "các điều kiện trước và sau khi cấp tín dụng đều đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả và các tỷ lệ đảm bảo an toàn khác quy định tại Thông tư này" rồi, cũng không phải là thông lệ quốc tế và cũng không phải là chuẩn mực Basel.

 

Quy định này đã vô hiệu hóa hoạt động của bộ phận quản lý Tài sản có - Tài sản nợ (ALCO) và can thiệp vào quyền chủ động của các tổ chức tín dụng. Cho đến nay, chỉ có Trung Quốc quy định tỷ lệ này để hạn chế tín dụng quá nóng gần đây mà thôi.

 

Một tỷ lệ khống chế tín dụng như vậy trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam là không cần thiết. Ngoài ra, Thông tư 13 còn quy định các tổ chức tín dụng không được sử dụng tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức và vốn chủ sở hữu để cấp tín dụng.

 

Chúng tôi thử tính loại trừ các yếu tố theo quy định của Thông tư 13 và các quy định khác (dự trữ bắt buộc, dự phòng rủi ro... ) thì cứ 100 đồng huy động, tổ chức tín dụng chỉ còn khoảng 61-64 đồng cho vay.

 

Làm sao ngân hàng có thể gánh nổi chi phí an toàn này và nguồn đâu để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế?

 

Quy định bất hợp lý này chỉ khiến cho ngân hàng thương mại muốn tồn tại phải lách luật, biến tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức thành tiền gửi có kỳ hạn và nếu như vậy thì hệ thống lãi suất méo mó khủng khiếp, nghĩa là lãi suất ngắn hạn bằng dài hạn, lãi suất có kỳ hạn bằng không kỳ hạn, thị trường tín dụng có thể sẽ rối loạn.

 

- Basel III quy định như thế nào về hệ số rủi ro cao nhất như Thông tư 13 quy định hệ số rủi ro 250% đối với cho vay đầu tư chứng khóan, cho vay công ty chứng khoán, cho vay kinh doanh bất động sản?

 

- Ủy ban Basel có quy định về hệ số rủi ro cao nhất để tính tài sản có rủi ro là 150% với một lưu ý là các cơ quan giám sát ngân hàng có thể quy định hệ số rủi ro cao hơn trong trường hợp đặc biệt, nếu thấy cần thiết.

 

Vấn đề là thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản của Việt Nam hiện đã có biểu hiện đặc biệt chưa? đã có dấu hiệu vỡ bong bóng để ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống tài chính chưa?

 

Tôi cho rằng hai thị trường này thậm chí đang nguội lạnh, đóng băng.

 

Vì vậy, quy định hệ số rủi ro 250% là không cần thiết mà giữ nguyên mức 150% như Quyết định 457 là tốt rồi.

 

Ngoài ra, Thông tư 13 không phân định rõ ràng mức độ rủi ro khác nhau của các khoản vay khác nhau đối với thị trường chứng khoán và bất động sản.

 

Ví dụ cho vay đầu tư chứng khoán khác với cho vay công ty chứng khoán để ứng trước tiền bán chứng khoán cho nhà đầu tư; hoặc cho vay giữa bất động sản đã hình thành khác với bất động sản chưa hình thành... Quyết định này có thể dẫn đến những bất ổn không cần thiết cho hai thị trường quan trọng này.

 

- Theo ông, Thông tư 13 có nên bổ sung sửa đổi hoặc có lộ trình thực hiện, hay giữ nguyên như đã ban hành để chứng tỏ sức mạnh và hiệu lực của chính sách?

 

- Nên lựa chọn những vấn đề nào chưa hợp lý thì bổ sung, sửa đổi, những thời hạn nào chưa thích hợp thì có lộ trình vì Thông tư này có ảnh hưởng rất sâu, rộng đến sự vững mạnh và an toàn của hệ thống tài chính và nền kinh tế.

 

Cần quan niệm việc bổ sung sửa đổi càng sớm càng tốt. Thể chế nào cũng có khiếm khuyết, một thể chế mạnh là thể chế phát hiện sớm sai sót và sửa đổi nhanh chóng.

 

Hệ thống ngân hàng Việt Nam còn non trẻ, hệ thống giám sát còn sơ khai, các chuẩn mực giám sát và hiệu lực của nó còn nhiều bất cập so với chuẩn mực quốc tế, vì vậy việc bổ sung, sửa đổi để dần hoàn thiện là chuyện rất bình thường.

 

Ủy ban Basel được thành lập năm 1974 bởi Thống đốc ngân hàng trung ương của nhóm 10 nước phát triển (G10). Ủy ban Basel xây dựng và công bố những tiêu chuẩn và những hướng dẫn giám sát rộng rãi, đồng thời giới thiệu các báo cáo thực tiễn tốt nhất.

Một mục tiêu quan trọng của Ủy ban này là thu hẹp khoảng cách giám sát quốc tế trên 2 nguyên tắc cơ bản: (i) Không ngân hàng nào được thành lập mà thoát khỏi sự giám sát; (ii) Việc giám sát phải tương xứng tại mỗi quốc gia cũng như trên toàn hệ thống.

 

Trí Dũng thực hiện (VNR500)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu