Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Ngành điện: Cơ chế độc quyền và lối mòn tư duy

30/09/2010 16 phút đọc Việt Nguyễn
Cơ chế độc quyền “tự nhiên” gói cả 3 khâu: phát điện, truyền tải và phân phối trong 1 công ty mẹ là EVN đã che đậy
Ngành điện: Cơ chế độc quyền và lối mòn tư duy

Cơ chế độc quyền “tự nhiên” gói cả 3 khâu: phát điện, truyền tải và phân phối trong 1 công ty mẹ là EVN đã che đậy những “vết ung thư” đang nhức nhối trong bản thân ngành điện. Chưa kể, việc điều hành các dự án điện còn quá yếu kém và theo lối mòn.

 

LTS: Mùa mưa năm 2010 chưa kết thúc, nhưng gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng đã đăng tải rộng rãi các bài viết của lãnh đạo ngành điện Việt Nam tuyên bố về việc khả năng thiếu điện nghiêm trọng ở Việt Nam trong giai đoạn cuối năm 2010 đầu năm 2011.

 

Diễn đàn VNR500 trân trọng giới thiệu bài viết của TS. Việt Nguyên xung quanh câu chuyện trên của ngành điện, với cái nhìn toàn diện, thẳng thắn, lý giải vào bản chất của sự thiếu điện triền miên cũng như sự yếu kém của ngành điện. Tính cầu thị của bài viết thể hiện rõ trong phần sau khi nêu ra các giải pháp để chữa trị các căn bệnh kinh niên đó.

 

Bài viết được tổng kết qua các cuộc trao đổi với các chuyên gia năng lượng của Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng châu Á (ADB) và Tổ chức Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) - là các định chế tài chính đang là chủ nợ lớn nhất cho ngành điện Việt Nam.

 

Mọi ý kiến tranh luận xin gửi về vnr500@vietnamnet.vn hoặc nhấn vào phần Thảo luận cuối bài.

 

Trong các hội nghị trong nước và quốc tế, Việt Nam đang được coi là lá cờ đầu của các nước đang phát triển trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, tăng cường an sinh và phát triển xã hội. Đằng sau những ánh hào quang của tấm huy chương, có rất nhiều vấn đề kinh tế, xã hội đã và đang nảy sinh. Nếu không có sự "phẫu thuật thành công" các khối u đó sớm muộn sẽ trở thành ác tính dẫn đến nhiều di căn nguy hiểm khác.

 

Một trong các vấn đề nổi cộp đó chính là hạ tầng cơ sở quá yếu kém và đang là mức cản trở đáng kể cho động lực phát triển kinh tế của Việt Nam.

 

Hình ảnh các doanh nghiệp và người dân Việt Nam chống chọi với việc cắt điện luân phiên và triền miên trong cả 3 miền Bắc Trung Nam, từ thành thị đến nông thôn, đã miêu tả bức tranh rất xấu về ngành điện trong người dân Việt Nam nói chung và các nhà đầu tư trong nước cũng như quốc tế nói riêng. Vậy các nguyên nhân nào đã dẫn đến việc thiếu điện ở Việt Nam trong thời gian dài như vậy?

 

 

Độc quyền "tự nhiên" và hệ luỵ

 

Ngược dòng lịch sử ngành điện về những năm 80 đầu những năm 90 thế kỷ trước, khi nền kinh tế Việt Nam còn mang tính kế hoạch nhà nước tập trung và bước những bước đi đầu tiên sang kinh tế thị trường.

 

Trong những năm đó quy mô ngành điện Việt Nam mới chỉ mang tính nhỏ lẻ và điện mới chỉ cung cấp được đến các trung tâm tỉnh và các thành phố lớn. Với sự ra đời của nhà máy thủy điện (NMTĐ) Hòa Bình, Trị An, Phả Lại hầu hết là do Liên Xô cũ viện trợ và sự hình thành cơ quan tập trung điều hành và phát triển ngành điện là Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN) đã là bước nhảy vọt về cơ chế để điều hành và phát triển ngành điện Việt Nam.

 

Công bằng mà nói, khi đó sự ra đời của huyết mạch 500kV xương sống Bắc Nam, các cải tổ về mặt tổ chức trong điều hành ngành điện như thành lập Trung tâm điều độ Quốc gia và Điều độ miền đã đem lại đột phá quan trọng cho việc điều hành cung cấp điện cho toàn quốc.

 

Trải qua hơn 15 năm phát triển EVN (nay là Tập đoàn Điện lực Việt Nam) đã có bước phát triển đáng kể so với ngày đầu thành lập. Tuy nhiên sau 15 năm phát triển và thiếu sự cải tổ về cơ chế, chính cơ chế tập trung điều hành cả ngành điện Việt Nam ở EVN đang lại là những cản trở lớn thách thức sự phát triển theo nhịp nhu cầu phát triển của xã hội.

 

Cơ chế độc quyền "tự nhiên" gói cả 3 khâu: phát điện, truyền tải và phân phối trong 1 công ty mẹ là EVN đã che đậy những "vết ung thư" đang nhức nhối trong bản thân ngành điện.

 

Với cơ chế tập trung, ban đầu EVN có thể dễ dàng huy động được nguồn lực để phát triển các công trình trọng điểm. Nhưng cũng chính vì thế đã tạo cho việc đầu tư mất cân đối của ngành điện trong từng vùng miền và trong cả 3 khâu: phát điện, truyền tải và phân phối.

 

Bức tranh đầu tư mất cân đối của EVN trong những năm qua có thể minh họa thêm bằng sự ra đời rất nhanh trung tâm nhiệt điện rất lớn ở Phú Mỹ (gần 4.000MW) trong giai đoạn 1998-2003 trong khi miền Bắc chẳng có thêm nguồn điện nào trong thời gian dài sau khi NMNĐ Phả Lại 2 vào vận hành.

 

Thế nên mới có việc trong thời gian kỷ lục 2 năm, EVN đã phải gấp rút hoàn thành đường dây 500kV mạch 2 để tải điện từ Nam ra Bắc, trong khi nếu đầu tư phát triển hài hòa thì có thể tránh khỏi việc đầu tư tập trung quá nhiều vào lưới truyền tải lớn trong giai đoạn 2003-2006 như đã làm.

 

Do nguồn lực hạn chế nên việc huy động tài chính vào đầu tư nguồn điện trong giai đoạn này đã bị sao nhãng dẫn đến hệ quả thiếu điện sau 4-5 năm như một trong các yếu tố tất yếu.

 

Hay như việc lãnh đạo EVN "ung dung" đáp ứng việc thiếu điện ở miền Bắc bằng cách mắc dây mua điện của Trung Quốc dồn dập vào các năm 2005-2007 trong khi nguồn lực đó có thể tập trung vào phát triển nguồn điện trong nước. Hệ quả của việc mua điện này là bị ép giá mua điện từ Trung Quốc lên rất cao và EVN thực sự không đảm bảo an ninh năng lượng cần thiết và chủ động cấp điện cho các tỉnh phía Bắc.



 

Chính phủ Việt Nam khi thấy khả năng không thể tự đáp ứng cung cấp điện từ phía EVN cho nền kinh tế quốc dân đã cho phép nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào ngành điện. Và chính cái cơ chế độc quyền "tự nhiên" của EVN đã là bước cản trở lớn cho các nhà đầu tư bên ngoài EVN phát triển nguồn điện.

 

Trong suốt thời gian dài, Việt Nam không thể thu hút thêm các nhà đầu tư nước ngoài mới vào tham gia đầu tư ở Việt Nam. Ngay cả Công ty AES, một công ty năng lượng lớn của Mỹ, đã phải mất 5 năm ròng rã đàm phán với EVN để có được bản hợp đồng "tạm chấp nhận được" về mua bán điện nhà máy nhiệt điện Mông Dương 2 (Quảng Ninh).

 

Đối với các nhà đầu tư trong nước, việc đàm phán hợp đồng mua bán điện với EVN rất khó khăn và thường bị EVN "nhũng nhiễu" yêu cầu cắt giảm chi phí và giá thành "một cách bất hợp lý". Đó là một trong các nguyên nhân gây ra triển khai chậm các dự án đầu tư của các chủ đầu tư ngoài ngành. Trong khi các "sự nhũng nhiễu" này của các công ty trong EVN thường không có.

 

Ngay cả khi các công trình nguồn điện của các chủ đầu tư bên ngoài như Petro Vietnam, TKV hay các chủ đầu tư khác đã vào vận hành, với cây gậy "điều độ tập trung" hay "điều tiết hợp lý", các nguồn điện của chủ đầu tư bên ngoài thường không được huy động hết khả năng cung cấp của mình so với năng lực của các nhà máy hoặc so với các nhà máy điện tương tự của EVN.

 

Nhìn vào bảng tổng kết của EVN về các nguồn điện trong toàn quốc, không khó khăn gì để nhận ra rằng sự chênh lệch mức huy động phát điện (hệ số huy động công suất cực đại) của các nguồn điện trong và ngoài EVN.

 

Trong các cuộc trao đổi với các "cán bộ điều độ" của EVN có thể thấy lời giải thích là sự chênh lệch về giá. Nhưng xin thưa, chính sự không minh bạch giữa các khâu truyền tải và phát điện vô hình chung đã tạo thế mạnh cho các nguồn điện của EVN trong khi các nhà máy ngoài ngành không có được điều này. Đó là các ví dụ điển hình về cơ chế độc quyền và thiếu minh bạch của ngành điện hiện nay.

 

Cơ chế độc quyền và thiếu minh bạch trong ngành điện còn phản ánh rất lớn đến việc cung cấp điện cho người dân và doanh nghiệp.

 

Cũng chẳng khó khăn gì nếu bạn thử đi đăng ký xin lắp công tơ, đặc biệt là các công tơ 3 pha hay cấp điện trung áp, bạn sẽ cảm thấy khó chịu từ cung cách làm việc và các đối xử của nhân viên ngành điện đối với khách hàng và rằng yêu cầu của bạn khó được đáp ứng trong thời gian trước mắt.

 

Nhưng khi bạn chỉ cần đánh tiếng thuê các đơn vị môi giới, công việc của bạn sẽ thay đổi đến chóng mặt. Hay như ví dụ của một người bạn đang là chủ của 1 doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn Hà Nội. Tự nhiên vào một ngày đẹp trời, công tơ và aptomat trong hòm điện của ngành điện trục trặc liên tục, dẫn đến dây chuyền sản xuất của công ty phải ngừng lại. Nhưng chỉ khi có tiền lót tay cho các cán bộ ngành điện thì vấn đề của bạn được giải quyết triệt để.

 

Yếu kém trong điều hành

 

Trong một buổi hội thảo về phát triển ngành điện tổ chức tại Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) có một lãnh đạo đã phải thốt lên rằng, EVN đang bị miền Trung hóa. Gạt sang một bên chuyên lựa chọn cán bộ trong nội bộ EVN, việc đưa ra các quyết sách và điều hành hệ thống điện của lãnh đạo EVN qua những thời kỳ còn có nhiều điều phải bàn lại. Điều đó có thể đưa ra bằng các ví dụ sau:

 

- Trong các bản báo cáo tổng kết của EVN trong giai đoạn 2005-2008, chúng ta đã thấy nhắc nhiều đến việc EVN đã được Chính phủ cho áp dụng các cơ chế 400-797 đối với một loạt dự án nguồn điện do EVN làm chủ đầu tư. Nếu chúng ta nhìn kỹ vào danh sách đó thấy rằng các nguồn điện được áp dụng theo cơ chế đặc biệt đều là các dự án thủy điện.

 

Việc lãnh đạo EVN lựa chọn cú đấm trọng điểm để đảm bảo cung ứng điện trong giai đoạn xung quanh năm 2010 là thủy điện có thể được coi là một sai lầm vì: thứ nhất, thủy điện rất phụ thuộc vào thời tiết (nói một cách hài hước là phụ thuộc vào ông "Trời") và ông "Trời" nhiều khả năng đã không còn ưu ái EVN như những năm trước nữa; thứ hai, ai cũng biết thủy điện dùng để phủ đỉnh (tức là phát vào giờ cao điểm) và có suất vốn đầu tư trung bình cao hơn suất vốn đầu tư của các nguồn nhiệt điện nếu so sánh cùng một mặt bằng giá.

 

Nguồn lực hạn chế và do tập trung nhiều vào thủy điện đã làm hổng phần đầu tư các nguồn nhiệt điện lại là các nguồn điện để cung cấp phần cơ sở (phần đáy) của nhu cầu. Bức tranh cung cấp điện 2009-2010 cho thấy hệ thống điện Việt Nam thực sự là thiếu điện năng (chứ không phải thiếu công suất đỉnh như những năm trước).

 

Đây là hệ quả tất yếu của việc xem nhẹ đầu tư nguồn nhiệt điện trong những năm trước và là 1 trong các nguyên nhân xảy ra thiếu điện trong thời gian qua.



 

- Việc điều hành các dự án điện còn quá yếu kém. EVN vẫn tự coi mình là đơn vị có nhiều kinh nghiệm nhất trong việc điều hành các dự án điện. Để kết luận có phải như vậy không thì chúng ta hãy xem các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành điện Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1995 đến 2007. Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện phục vụ phát triển kinh tế xã hội, có rất nhiều nguồn điện đã cần phải đưa vào vận hành.

 

Tuy nhiên, đối chiếu với tiến độ đã thực hiện hay đang thực hiện, các công trình đó thường chậm tiến độ ít nhất là 2-3 năm, thậm chí có công trình chậm tiến độ cả 5-6 năm.

 

Đơn cử là các công trình nguồn nhiệt điện Uông Bí mở rộng, Hải Phòng và Quảng Ninh đáng lý ra phải đưa vào vận hành từ những năm 2005-2006 và là nguồn cung cấp điện quan trọng cho miền Bắc.

 

Nhưng cho đến thời điểm này, các nguồn điện trên làm việc vẫn trục trặc và chưa thể đưa vào vận hành thương mại và cung cấp điện ổn định cho hệ thống điện Việt Nam. Việc chậm trễ xây dựng các nguồn điện đã là căn bệnh cố hữu của EVN trong cả hơn chục năm qua mà đến nay lãnh đạo EVN vẫn chưa có cách nào giải quyết được. Và đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc thiếu điện triền miên ở Việt Nam.

 

Qua rất nhiều lần kiểm điểm lãnh đạo EVN đã đổ lỗi cho một loạt các nguyên nhân khách quan nhưng chưa một lần nào lãnh đạo EVN nhận thấy các điều hành xây dựng các dự án của mình đang có vấn đề mà chưa giải quyết được triệt để.

 

- Cho đến nay, EVN đang điều hành hệ thống điện Việt Nam đi theo tư duy lối mòn được hình lập và duy trì từ giữa những năm 90 thế kỷ trước. Đó là việc trông đợi quá nhiều khả năng đáp ứng của các NMTĐ ở miền Bắc và miền Trung.

 

Từ khi hoàn thành toàn bộ nhà máy năm 1992 cho đến nay, NMTĐ Hòa Bình vẫn thường nằm trong chu kỳ "con nước cao" và trong vài năm trở lại đây ông "Trời" đã không còn thương ngành điện. Thực chất của vấn đề nằm sự biến đổi khí hậu và đặc biệt biến đổi cơ cấu dòng chảy Sông Đà do các tác động của các công trình thủy điện/thủy lợi đã xuất hiện ở bên đất Việt và đất nước bạn đã không được nghiên cứu một cách đầy đủ và khoa học.

 

Mới đây EVN đã cho nghiên cứu một cách hời hợt ảnh hưởng của NMTĐ Sơn La và các nhà máy thủy điện khác vào NMTĐ Hòa Bình. Nhưng theo các chuyên gia năng lượng và chuyên gia thủy lợi, nghiên cứu đó quá sơ sài và chưa đủ cơ sở để EVN thay đổi tư duy điều hành hồ Hòa Bình.

 

Trên các mặt báo, lãnh đạo EVN thông báo rằng hồ Hòa Bình thiếu hàng tỷ (chục tỷ) mét khối nước, rằng lũ tiểu mãn hàng năm đã không còn thấy nữa. EVN đã không cho nghiên cứu một cách khoa học về nguyên nhân và cách khắc phục trong điều kiện thay đổi về thủy văn mới.

 

Đến thời điểm này vẫn chưa muộn. Năm nay NMTĐ Sơn La sẽ đi vào vận hành. Về lý thuyết, hai hồ thủy điện Sơn La và Hòa Bình có thể kết hợp với nhau thành điều tiết nhiều năm và hy vọng nếu vận hành tốt 02 hồ trên, sự phụ thuộc vào điều kiện thời tiết thủy văn sẽ giảm đi được rất nhiều.

 

- Một ví dụ khác để minh chứng về lối mòn tư duy điều hành là công tác điều độ vận hành hệ thống điện. Ra đời từ những giữa những năm 90 của thế kỷ trước, Trung tâm điều độ Hệ thống điện Quốc gia cùng với 3 trung tâm Điều độ miền đã góp phần quan trọng trong vận hành Hệ thống điện Việt Nam.

 

Lúc đó Quy mô hệ thống điện còn nhỏ bé với hơn chục nhà máy điện và vài chục trạm 220kV, 110kV, việc điều khiển vẫn chủ yếu thông qua hình thức điện thoại và điện thoại trực thông là chủ yếu.

 

Hiện nay, quy mộ hệ thống điện đã thay đổi với hàng chục nhà máy, hàng trăm tổ máy, hàng trăm trạm 220kV và 110kV. Tuy nhiên, trên thực tế việc điều hành vẫn diễn ra theo kiểu "alo". Hàng chục tỷ đồng được đầu tư cho các hệ thống điều khiển tự động bằng máy tính hiện đại trong các trung tâm điều độ và các trạm biến áp vẫn chưa được khai thác hết các tính năng.

 

Điều này dẫn đến việc điều hành hệ thống và xử lý sự cố thường diễn ra rất chậm, không đủ nguồn lực và động lực giúp người điều hành hệ thống tối ưu hóa các chế độ làm việc và giảm tổn thất truyền tải và tổn thất không tải của hệ thống khi có thể.

 

Hiện nay đã hình thành các tổng công ty phân phối và truyền tải nhưng về sơ đồ công nghệ, EVN vẫn là người điều phối các hoạt động phát dẫn điện trong hệ thống thông qua các trung tâm điều độ. Mô hình công nghệ từ những năm 90 đã không theo kịp yêu cầu phát triển của hệ thống điện Việt Nam và cần phải được đổi mới triệt để trong thời gian tới.

(còn nữa)

 

Việt Nguyên (VNR500)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu