Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Cải tổ EVN vẫn nửa vời

01/10/2010 10 phút đọc Việt Nguyễn
Phải chăng các cải tổ về cơ cấu ngành điện vẫn còn nửa vời (nếu không nói là quá ít)? Chừng nào còn thiếu điện,
Cải tổ EVN vẫn nửa vời

Phải chăng các cải tổ về cơ cấu ngành điện vẫn còn nửa vời (nếu không nói là quá ít)? Chừng nào còn thiếu điện, EVN còn tồn tại như là nơi để quy trách nhiệm về thiếu điện; và nếu tình trạng thiếu điện được giải quyết thì việc cơ cấu lại EVN là điều khó tránh khỏi khi mà EVN đã "thò chân" quá vào nhiều lĩnh vực khác nhau.

 

LTS: Diễn đàn VNR500 xin giới thiệu phần tiếp theo bài viết của TS. Việt Nguyên về câu chuyện ngành điện. Mời bạn đọc theo dõi và tiếp tục tranh luận qua vnr500@vietnamnet.vn hoặc nhấn vào phần Thảo luận cuối bài.

 

Tư duy quản lý về điện chưa theo kịp phát triển

 

Vào thời kỳ nền kinh tế Việt Nam đã đi theo tư duy hóa kinh tế nhà nước tập trung, các chuyên gia Liên Xô đã giúp Việt Nam lập và thực hiện các Quy hoạch định hướng phát triển ngành điện giai đoạn từng 5 năm một. Truyền thống này vẫn giữ đến ngày nay, khi mà nền kinh tế Việt Nam đã chuyển dần sang kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

 

Mặt khác, quy mô của hệ thống điện Việt Nam nói riêng và quy mô của nền kinh tế Việt Nam nói chung đã phát triển lên gấp nhiều lần, và việc đi theo lối mòn tư duy quy hoạch tập trung đã không theo kịp với tốc độ phát triển.

 

Đọc các bản phê duyệt quy hoạch của Chính phủ, cũng không khó lắm để nhận thấy, cùng với việc phê duyệt quy hoạch phát triển các trung tâm nhiệt điện hàng nghìn MW, còn thấy phê duyệt cả công trình thủy điện cỡ chục MW hoặc thấp hơn - vài MW - chẳng qua chỉ là sai số đối với nhà máy nhiệt điện nghìn MW hay sai số dự báo phụ tải chấp nhận được.

 

Với tư duy tất cả phải có trong quy hoạch và thừa còn hơn thiếu, các quyết định quy hoạch của Nhà nước đã đẩy mức dự báo phụ tải và dự mức dự phòng công suất (để làm chậm tiến độ là vừa!!!) lên mức quá cao, làm méo mó bức tranh phát triển chung của ngành điện, và quan trọng nhất là dàn trải đầu tư.

 

Với nguồn lực có hạn để phát triển kinh tế Việt Nam nói chung, ngành điện Việt Nam nói riêng, việc không xác định rõ nơi tập trung nguồn lực để phát triển dẫn đến việc các công trình điện đều thiếu cả nguồn lực tài chính lẫn nhân sự. Cuối cùng, các nguồn điện vẫn không thể vào vận hành đúng tiến độ, và tình hình thiếu điện ở Việt Nam vẫn không được cải thiện.

 

 

Hãy nhìn vào các nước phát triển và các nước đang phát triển tiên tiến khác, thay vì các bản quy hoạch chi tiết, Chính phủ Việt Nam chỉ nên dừng lại ở mức hoạch định các chiến lược phát triển lớn cho ngành điện. Sau đó, các tổng công ty/tập đoàn lớn sẽ xem xét xây dựng cho mình kế hoạch phát triển trong ngắn hạn và dài hạn phù hợp với chiến lược được Chính phủ thông qua.

 

Tư duy quản lý nhà nước ảnh hưởng đến phát triển ngành điện là việc nền kinh tế Việt Nam trong một thời gian dài đã chạy theo thành tích - giữ tốc độ tăng trưởng nền kinh tế bằng mọi giá, kể cả trả giá bằng việc đầu tư đắt đỏ và công nghệ lạc hậu. Điều này đã dẫn đến hệ số sử dụng vốn đầu tư (ICOR) và cường độ năng lượng (EIR) của Việt Nam rất cao. Các công ty mới ra đời hoặc đầu tư dây truyền công nghệ mới đã không chú trọng lớn đến việc tiết kiệm năng lượng và vì thế càng phát triển Việt Nam càng tiêu thụ năng lượng lãng phí.

 

Mặc dù thời gian gần đây, Chính phủ Việt Nam đã đẩy mạnh việc kêu gọi tiết kiệm năng lượng, tuy nhiên các chuyên gia năng lượng thế giới cho rằng việc làm này còn chưa được chú trọng đúng mức, đặc biệt ở tầm hoạch định chính sách vĩ mô phát triển kinh tế.

 

Điểm cuối cùng cần nhấn mạnh trong tư duy quản lý nhà nước về ngành điện là việc để giá năng lượng, đặc biệt là giá điện, cần được thay đổi theo mô hình cơ chế thị trường. Hiện nay trong các mảng năng lượng, chỉ duy nhất có xăng, dầu và ga là được Chính phủ Việt Nam điều hành tạm gọi là cơ chế thị trường, trong khi than, điện vẫn được Chính phủ Việt Nam kiểm soát giá chặt chẽ.

 

Việc duy trì lâu dài giá điện quá rẻ đã làm cho người dân mất cảm giác cần tiết kiệm năng lượng (thậm chí chuyển từ dùng ga sang dùng điện) cũng như khuyến khích các tập đoàn/công ty trong và ngoài nước sản xuất thừa các sản phẩm tiêu thụ điện nhiều như thép, xi măng, vật liệu xây dựng... Nếu có một giá điện vận hành theo cơ chế thị trường thì chính cơ chế thị trường sẽ điều tiết việc sản xuất và tiêu thụ điện theo hướng kinh tế có lợi nhất.

 

Thời gian qua, không ít lần lãnh đạo ngành điện đã xin lỗi người dân Việt Nam về việc cắt điện triền miên, hay bức xúc của người dân địa phương đe dọa hành hung cán bộ công nhân ngành điện. Đứng về mặt quản lý nhà nước, rõ ràng EVN đã không hoàn thành trách nhiệm của mình trong việc cung cấp điện cho quốc gia.

 

Tin chắc rằng không thể không có những suy nghĩ về việc cải tổ cơ cấu tổ chức ngành điện.

 

Đơn cử, việc năm 2005 thành lập cơ quan hành chính (Cục Điều tiết Điện lực) là đơn vị có chức năng điều tiết hoạt động điện lực góp phần cung cấp điện an toàn, ổn định, chất lượng. Gạt sang một bên các ý kiến về năng lực và cung cách quản lý của Cục Điều tiết Điện lực thời gian qua, những người dân đóng thuế có quyền đặt câu hỏi về các hoạt động của Cục Điều tiết Điện lực khi xảy ra tình trạng thiếu điện triền miên.

 

Phải chăng các cải tổ về cơ cấu ngành điện vẫn còn nửa vời (nếu không nói là quá ít)? Chừng nào còn thiếu điện, EVN còn tồn tại như là nơi để quy trách nhiệm về thiếu điện; và nếu tình trạng thiếu điện được giải quyết thì việc cơ cấu lại EVN là điều khó tránh khỏi khi mà "khủng long" EVN đã "thò chân" quá vào nhiều lĩnh vực khác nhau.

 

Hạn chế khi hoạch định chiến lược

 

Trong một thời gian dài, tư duy về quy hoạch phát triển ngành điện đã được các chuyên gia Việt Nam chủ yếu đào tạo ở Nga thực hiện. Tư duy quy hoạch theo mô hình kinh tế nhà nước tập trung đã ăn vào máu những người lập và phê duyệt, dẫn đến các quy hoạch điện trong một thời gian dài không còn thay đổi phù hợp với khả năng phát triển ngành điện Việt Nam.

 

 

Gần đây, lớp cán bộ được đào tạo ở Nga đã về hưu, và lớp người thay thế lập quy hoạch thiếu đi sự kinh nghiệm và đào tạo cần thiết để lập chiến lược, quy hoạch cần thiết cho ngành điện. Và vì thế, chất lượng quy hoạch điện ngày càng đi xuống.

 

Nếu đặt các quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành điện từ năm 1995 trở lại đây cạnh nhau và so sánh, có thể dễ dàng nhận thấy việc dịch chuyển rất nhanh trong chiến lược phát triển nguồn điện Việt Nam: từ trọng tâm phát triển thủy điện trong quyết định năm 1997 sang phát triển tuabin khí - năm 2003 và chuyển sang nhiệt điện than - năm 2007. Rõ ràng, người lập quy hoạch không tự xác định được đâu là điểm cân bằng vàng trong cơ cấu các nguồn điện dự kiến phát triển.

 

Ở đây đòi hỏi cách nhìn phát triển tổng thể cân bằng và tạo cơ hội bình đẳng cho các loại nguồn điện có tính đến bài toán an ninh năng lượng dài hạn cho Việt Nam.

 

Hiện nay, theo thống kê đang hình thành rất nhiều (19) các trung tâm nhiệt điện than rất lớn cả ở 3 miền Bắc, Trung, Nam. Nếu các trung tâm nhiệt điện này đều được thực hiện theo đúng quy mô nghiên cứu thì thực sự là một thảm họa lớn cho Việt Nam: cả về mặt môi trường, giao thông, truyền tải lẫn đầu tư, tài chính.

 

Việc những người lập quy hoạch không thể so sánh và chỉ rõ được mặt mạnh, mặt yếu của các trung tâm, để qua đó loại bỏ những trung tâm không có tính cạnh tranh cao sẽ lại là mô hình dàn trải đầu tư kém hiệu quả chung cho cả nền kinh tế Việt Nam.

 

Bản thân các trung tâm đều phát triển chung theo một mô hình xây cảng nước sâu lớn tốn kém, xây dựng nhà máy rất lớn, xây dựng các đường dây truyền tải về phía các trung tâm phụ tải đều là rất tốn kém. Trong khi đó, nguồn cung cấp than trong nước vẫn chưa xác định rõ có đủ hay không và khả năng cung cấp than dài hạn từ nước ngoài còn là ẩn số.

 

Theo các đánh giá của các chuyên gia JICA, việc quy hoạch phát triển lưới điện truyền tải của Việt Nam, đặc biệt tại khu vực xung quanh 2 trung tâm kinh tế lớn ở miền Bắc và miền Nam (Hà Nội và TP.HCM) đang thực hiện rất thiếu khoa học. Và điều này dẫn đến việc mất an toàn nghiêm trọng và chi phí khắc phục rất tốn kém.

 

Một ví dụ minh chứng nữa cho việc phải thay đổi tư duy lập quy hoạch sang lập chiến lược phát triển phù hợp là việc quy hoạch đã không kiểm soát được sự phát triển quá mức thủy điện của một số vùng.

 

Các tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên đã từng đề ra một quy hoạch phát triển các nguồn thủy điện nhỏ rất lớn, lớn đến mức vượt quá khả năng đáp ứng nguồn lực tài chính của khu vực nói riêng và cả nước nói chung. Và hiển nhiên, các quy hoạch này không thể thực hiện được như tiến độ đề ra. Trong trường hợp này, Nhà nước nên có định hướng chiến lược phát triển các nhà máy thủy điện nhỏ ở khu vực này vừa đủ ở mức cung cấp cho khu vực tại chỗ và chỉ tải một phần nhỏ cho các khu vực khác.

 

Việt Nguyên (VNR500) 

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu