Tên gọi doanh nghiệp cần nhìn vào thực chất, hiệu quả, vào tổng các nguồn lực được sử dụng và các thành tích mà doanh nghiệp tạo ra hơn là gắn cho chúng những cái danh to tát - TS. Nguyễn Quang A kiến nghị.
LTS: Diễn đàn VNR500 xin giới thiệu bài viết góp ý vào Điều 38 của Nghị định số 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp, thay thế cho Nghị định số 139/2007/NĐ-CP ngày 5/9/2007. Điều 38 liên quan trực tiếp đến các"tập đoàn kinh tế". Mọi ý kiến tranh luận xin gửi về: vnr500@vietnamnet.vn hoặc nhấn vào phần Thảo luận cuối bài. Phong trào gắn tên "tập đoàn" nở rộ Chạy theo cái danh to, cái tên lớn hầu mong tạo sự khác biệt, sự phân biệt là một "căn bệnh" ở Việt Nam, cùng với các quy định pháp lý không rõ ràng khiến căn bệnh này nghiêm trọng thêm. Người ta thích được gọi là tổng giám đốc hơn là giám đốc. Các công ty thích được gọi là tổng công ty, là tập đoàn hơn chỉ là công ty. Không có sự phân biệt rõ ràng giữa tên gọi pháp lý và tên gọi dân dã, mà chủ yếu do bên ngoài (báo chí, dư luận, bạn hàng) gán cho các công ty như một sự thừa nhận uy tín, thì vàng thau lẫn lộn là chuyện khó tránh. Nhà nước tuyệt đối nên tránh việc tạo ra, hay tạo điều kiện cho sự lẫn lộn đó xảy ra, vì sự lẫn lộn chỉ tác động tiêu cực đến sự phát triển của đất nước. Tổng công ty, tập đoàn là các khái niệm như vậy, chúng không phải là các khái niệm pháp lý (có tính pháp nhân và được nêu tường minh trong Luật Doanh nghiệp). Nhiều nhất đó chỉ là các cụm từ gắn với tên doanh nghiệp cho "oai". goài gần chục tập đoàn kinh tế nhà nước, phong trào gắn tên "tập đoàn" nở rộ. Hàng trăm doanh nghiệp được đổi tên thành "tập đoàn" tư nhân. Nếu tính số "tập đoàn" trên số doanh nghiệp thì Việt Nam hẳn đứng đầu thế giới! Quá lạ kỳ với một nền kinh tế chưa phát triển. Chỉ là một tên gọi dân dã Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp, thay thế cho Nghị định số 139/2007/NĐ-CP ngày 5/9/2007. Bài này chỉ bình luận về Điều 38 của Nghị định này liên quan đến các "tập đoàn kinh tế". Các chuyên gia đã cảnh báo ngay từ đầu rằng, cái gọi là "tập đoàn kinh tế" không là một pháp nhân, nó chỉ là một cụm từ gắn với tên gọi của doanh nghiệp. Và nếu chỉ như vậy, thì việc gắn thêm cụm từ "tập đoàn" trước tên doanh nghiệp chỉ để thỏa mãn tính thích "hoành tráng" mà thôi. Ngoài ra, sự nhập nhằng giữa thực thể được gọi là "tập đoàn kinh tế" và doanh nghiệp có gắn tên "tập đoàn X" khi đăng ký kinh doanh tạo ra sự phân biệt, sự hiểu lầm và những hệ quả tai hại. Đấy là những cảnh báo từ lâu. Tập đoàn là cách gọi dân dã, không phải là khái niệm pháp lý, vì thế không nên đưa vào một văn bản pháp quy vì chỉ gây ra sự phân biệt và sự lẫn lộn. Việc làm thí điểm thành lập "tập đoàn" vẫn tiếp diễn. Đến 1/7/2010 gần chục "tập đoàn kinh tế" ra đời, bất chấp các quy định của Luật Doanh nghiệp về chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hay công ty cổ phần. Thí điểm không thể tràn lan. Số "tập đoàn" so với số doanh nghiệp nhà nước đúng là không đáng kể, nhưng, tôi nghĩ, chúng chiếm đến 60-75 % nguồn lực của các doanh nghiệp nhà nước, thì không thể gọi là "thí điểm" được nữa. Rồi Luật Doanh nghiệp nhà nước hết hiệu lực vào ngày 1/7/2010, và hạn chuyển đổi cũng hết vào ngày đó, thì mới có chuyện đồng loạt chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Và nghị định trên ra đời để phù hợp với tình hình đó, một công việc lẽ ra phải làm từ trong suốt bốn năm trời. Các chủ tịch tập đoàn có cái tên mới chủ tịch hội đồng thành viên; tên gọi của các "tập đoàn" là "công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X, Y, Z. Nghe không được "oai" như trước nên người ta rất muốn gắn với cái "tập đoàn". Hãy "soi" vào thực chất, hiệu quả Quay lại Nghị định vừa được ban hành và có hiệu lực từ 15/11/2010. Điều 38 định xác định tập đoàn kinh tế bao gồm nhóm công ty có quy mô lớn có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty mẹ - công ty con. Điều này cũng khẳng định lại: "Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Việc tổ chức hoạt động của tập đoàn do các công ty thành lập tập đoàn tự thỏa thuận quyết định". Cụm từ "tập đoàn" có thể sử dụng như một thành tố phụ trợ cấu thành tên riêng của công ty mẹ. Tức là, thừa nhận các lập luận phê phán của các chuyên gia và "tập đoàn" chỉ là cụm từ gắn với tên của một doanh nghiệp như đã được phân tích từ lâu. Việc làm báo cáo tài chính hợp nhất là nghĩa vụ của tất cả các doanh nghiệp có các khoản đầu tư vào các doanh nghiệp khác (quy định bắt buộc khi khoản đầu tư vượt một ngưỡng nhất định, thí dụ 20% vốn của công ty con) bất luận trong tên của nó có cụm từ "tập đoàn" hay không. Hiểu theo nghĩa đó, thì việc Nghị định quy định Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ báo cáo tài chính hợp nhất, giám sát hoạt động tài chính của mọi công ty là cần thiết, nhưng đưa "tập đoàn kinh tế, nhóm công ty mẹ - công ty con thuộc tập đoàn kinh tế" vào quy định này là hoàn toàn thừa và tiếp tục tạo điều kiện cho sự lẫn lộn nảy sinh. Hãy nhìn vào thực chất, vào hiệu quả, vào tổng các nguồn lực được sử dụng và các thành tích mà doanh nghiệp tạo ra hơn là gắn cho chúng những cái danh to tát, không đóng góp nhiều vào kinh tế đất nước. Nguyễn Quang A(VNR500)

Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra chủ trương xây dựng các tập đoàn kinh tế; Luật Doanh nghiệp có một câu nói đến tập đoàn kinh tế. Rồi nhiều nghị định thay thế nhau để hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp cũng chẳng thể đưa ra quy định chi tiết nào về các tập đoàn, bất chấp sự thúc bách của các "tập đoàn kinh tế" nhà nước và tư nhân.

Sự thất bại của Vinashin đặt ra yêu cầu xem xét lại mô hình tập đoàn (ảnh xaluan).