Không phải cứ quốc hữu hóa tư liệu sản xuất là quan hệ sở hữu đương nhiên trở thành XHCN, không phải cứ doanh nghiệp Nhà nước là mang tính chất XHCN.
"Không của ai" không có nghĩa là "không của ai"!
Đề tài sở hữu toàn dân đang được nhiều chuyên gia bàn luận, và có một số ý kiến đề nghị từ bỏ khái niệm này, vì theo họ nó không chỉ có vẻ hàm hồ, mà còn là cơ sở cho nạn tham nhũng công sản. Thay vào đó, nên dùng một khái niệm khác mang tính pháp lý rạch ròi hơn, ví dụ như "sở hữu quốc gia", nhờ đó có thể minh định chủ thể sở hữu của các tài sản đó là ai, chứ không còn cái chủ thể mơ hồ "toàn dân" như trước. Bởi vì "sở hữu toàn dân" suy cho cùng là "không của ai cả" - một chuyên gia tuyên bố thẳng thắn như vậy.
Có thực "sở hữu toàn dân" là "không của ai cả" không?
Để có thể nắm được một vấn đề ở tầm vĩ mô thế này, có lẽ trước hết nên xem xét vấn đề ở tầm vi mô - tầm một tổ chức, một doanh nghiệp chẳng hạn.
Nếu hỏi một nhân viên bất kỳ đang ngồi làm việc, cái bàn này có phải của anh không? - câu trả lời hiển nhiên là "Không". Tôi có quyền sử dụng, nhưng nó không phải là của tôi. Hỏi tất cả nhân viên công ty, câu trả lời đều giống y như vậy. Hỏi người ngoài công ty, câu trả lời cũng thế nốt. Như vậy, chiếc bàn đó dường như "không của ai cả".
Không của ai cả, nhưng điều đó không có nghĩa là nó không của ai hết. Bạn cứ thử đến khênh chiếc bàn đó đi, biết liền là nó có thực "không của ai cả" không!
Ai cũng biết chiếc bàn đó thuộc về ai: nó là tài sản của công ty. Khi ta nói rằng chiếc bàn "không của ai cả" thì "ai" đó ở đây là một thể nhân riêng lẻ, một con người bằng xương bằng thịt. Nhưng công ty không phải là một thể nhân, mà là một pháp nhân, và pháp luật công nhận quyền sở hữu của nó đối với các tài sản "của nó".
![]() |
Về mặt hình thức thì thế. Tuy nhiên pháp nhân công ty là một con ma vô hình; ta không trông thấy nó, không sờ được vào nó. Những thứ làm nên "nhân thân" của nó, như tên gọi, ngày khai sinh, địa chỉ đăng ký, vốn điều lệ, tài sản hữu hình và vô hình v.v... chỉ giúp ta biết đến sự tồn tại của nó, chứ không giúp ta nhìn thấy nó. Và tài sản - những vật có thật - mà lại thuộc về một con ma vô hình vô tướng, thì kể cũng hơi kỳ. Quả thực, con ma này đâu có tự mình thực hiện được các quyền của nó đối với đống tài sản được cho là "của nó". Mọi hành vi thực tế đều do những con người bằng xương bằng thịt đại diện cho nó thực hiện mà thôi.
Vậy thực sự mà nói, về mặt nội dung, tài sản của công ty là của ai?
Câu trả lời không có gì bí ẩn: của các chủ sở hữu công ty, ví dụ như trong công ty cổ phần thì cái bàn là sở hữu của các cổ đông.
Nói vậy mà không hẳn là vậy, vì nếu ta lặp lại câu hỏi "cái bàn này của anh phải không" đối với tất cả các cổ đông, thì câu trả lời cũng y như khi ta hỏi các nhân viên công ty. Không ai dám nhận cái bàn đó là của riêng mình, nhưng trong thâm tâm vẫn thấy mình có một phần quyền sở hữu đối với nó. Một lần nữa ta thấy "không của ai" không có nghĩa là "không của ai"!
Nói tóm lại, chiếc bàn đó, về mặt hình thức, hay về mặt pháp lý cũng thế, là "của công ty", nhưng về mặt nội dung thì nó là "của tập thể cổ đông".
Quay trở lại vấn đề sở hữu toàn dân. Đất đai, mặt nước, bầu trời, tài nguyên, hệ thống đường sá do ngân sách Nhà nước đầu tư v.v..., "không của ai cả" theo cách nói ở trên, nhưng không có nghĩa là chúng "không của ai cả". Về mặt hình thức, hay pháp lý cũng thế, thì chúng thuộc về Nhà nước (cũng là một dạng "con ma vô hình"), còn về mặt nội dung chúng thuộc về toàn dân - những con người bằng xương bằng thịt, chủ sở hữu đích thực của các tài sản chung đó.
Mặc dù "Nhà nước" chỉ là cách nói thuần Việt của "quốc gia" - gia là nhà, quốc là nước, lũ trẻ con xưa kia vẫn đọc ra rả như cuốc kêu mùa hè mấy chữ Hán đó - nhưng trong ngôn ngữ hiện đại thì "quốc gia" có nghĩa rộng hơn "Nhà nước". Nhà nước, giống như công ty, là một định chế do người dân lập ra. Còn quốc gia bao gồm cả Nhà nước và các định chế đủ kiểu, lẫn người dân của đất nước, lẫn đất đai, mặt nước, vùng trời, mọi tài sản và đủ thứ khác nữa của đất nước. Như thế, về mặt hình thức, hay pháp lý, thì khái niệm "sở hữu quốc gia" không chuẩn xác bằng khái niệm "sở hữu Nhà nước", còn xét về mặt nội dung thì nó hàm hồ hơn khái niệm "sở hữu toàn dân", vì nó không chỉ ra người chủ đích thực của các tài sản đó.
Việc công sản bị tham nhũng thì hoàn toàn không phải do ta gọi nó là "sở hữu toàn dân", mà chỉ vì thiếu các thiết chế bảo vệ chúng, và quan trọng nhất là thiếu những con người có quyền và có ý thức bảo vệ chúng một cách thực sự. Ở ta, những người có ý thức bảo vệ công sản thì không có quyền, còn những người có quyền thì thường lại thiếu ý thức bảo vệ, thừa ý thức xâm phạm.
Không thể cứ "gán mác" là thành XHCN
Xét sâu vào bản chất, thì sở hữu chỉ là biểu hiện về mặt pháp lý của quan hệ sản xuất. Điều đó có nghĩa là nội dung thực của quan hệ sản xuất quyết định nội dung thực của quan hệ sở hữu, chứ không phải ngược lại. Đây là điều thường bị nhầm lẫn, và sự nhầm lẫn này đã gây ra vô số hậu quả.
Lấy ví dụ, quan hệ sản xuất TBCN, với cốt lõi là chế độ lao động làm thuê, quyết định nội dung của quan hệ sở hữu TBCN (tư liệu sản xuất nằm trong tay một số ít người, còn đại đa số không sở hữu tư liệu sản xuất và buộc phải làm thuê cho nhóm người kia).
Tương tự, quan hệ sản xuất XHCN (không còn chế độ làm thuê, mỗi người lao động tự lao động cho bản thân mình, nhưng không phải với tư cách những người sản xuất riêng lẻ, độc lập, đối lập với nhau, cạnh tranh với nhau, mà với tư cách thành viên của liên minh những người lao động tự do, lao động vì lợi ích của mình và lợi ích chung) quyết định nội dung XHCN của quan hệ sở hữu (tư liệu sản xuất không thuộc về từng cá nhân riêng lẻ - dù dưới dạng sở hữu trực tiếp như trong nền kinh tế tiền TBCN, nơi mỗi người sản xuất sở hữu một số tư liệu sản xuất riêng lẻ, hay dưới dạng gián tiếp như trong nền kinh tế TBCN, nơi mỗi cổ đông có quyền sở hữu một tỷ lệ nào đó trong khối tài sản chung của công ty tương ứng với phần vốn góp - mà thuộc về toàn bộ tập thể người lao động).
Tuy nhiên trong lịch sử đã xảy ra hiện tượng là người ta đảo lộn vị trí nhân-quả của mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và quan hệ sở hữu. Cụ thể, người ta cứ nghĩ rằng hễ quốc hữu hóa tư liệu sản xuất, gọi chúng là công hữu, thì quan hệ sở hữu ở đây đương nhiên mang tính chất XHCN, và quan hệ sản xuất dựa trên nền tảng công hữu tư liệu sản xuất đó đương nhiên là quan hệ sản xuất XHCN.
Do cách hiểu sai lạc, giáo điều đó mà nền sản xuất ở những nước được gọi là XHCN cũ được "gán mác" XHCN, trong khi trên thực tế quan hệ sản xuất ở những nơi đó chỉ là quan hệ sản xuất TBCN, nhưng là CNTB Nhà nước.
Tại các nước này, người lao động không hề làm chủ tư liệu sản xuất như chế độ công hữu đích thực đòi hỏi. Họ không được quyền quyết định việc sử dụng, định đoạt khối tư liệu sản xuất, cũng không có quyền bầu và miễn nhiệm bộ máy quản lý (ban chủ nhiệm hợp tác xã, ban giám đốc doanh nghiệp). Thân phận của họ không hơn gì thân phận giai cấp lao động làm thuê dưới thời CNTB, và trong nhiều trường hợp còn tệ hơn, vì họ bị lệ thuộc hoàn toàn vào một ông chủ duy nhất mang danh Nhà nước, chứ không được tự do chuyển đổi công việc từ ông chủ này sang ông chủ khác như trong chế độ TBCN thực thụ. Như thế, về mặt hình thức thì quan hệ sở hữu ở đây là "công hữu", nhưng về mặt nội dung thì là TBCN.
Về vấn đề này từ rất lâu Engels đã cảnh báo:
"Từ khi Bismarck lao vào việc quốc hữu hóa thì người ta thấy xuất hiện một thứ CNXH giả hiệu và đây đó nó thậm chí còn thoái hóa thành một sự bợ đỡ tự nguyện, tuyên bố thẳng ra rằng bất cứ sự quốc hữu hóa nào, ngay cả quốc hữu hóa theo kiểu Bismarck, cũng đều là CNXH cả. Hiển nhiên là nếu quốc hữu hóa ngành thuốc lá cũng là CNXH thì Napoleon và Metternich cũng có thể được tính vào số những người sáng lập ra CNXH. Nếu vì những lý do chính trị và tài chính hết sức bình thường mà Chính phủ Bỉ tự mình xây dựng lấy những tuyến đường sắt chủ yếu, Bismarck quốc hữu hóa những đường sắt chủ yếu của Phổ..., thì đó hoàn toàn không phải là những biện pháp XHCN, dù là trực tiếp hay gián tiếp, tự giác hay không tự giác. Nếu không thì công ty thương mại đường biển của nhà vua, công trường thủ công sành sứ của nhà vua, thậm chí người may quần áo cấp đại đội trong quân đội, cũng đều là những thiết chế XHCN" (Chống Đuy-rinh, NXB Chính trị quốc gia, 2004, tr. 601)
![]() |
Lenin cũng đã nhận ra rất sớm mối nguy lớn nhất của chế độ Xô Viết, đó là tình trạng bộ máy Nhà nước bị quan liêu hóa, trở thành bộ máy đối lập với người dân chứ không phải là của người dân. Bộ máy Nhà nước quan liêu đứng xen giữa người lao động và tư liệu sản xuất, ngăn chặn người lao động có được quyền làm chủ tư liệu sản xuất, do đó Nhà nước quan liêu đã duy trì thân phận làm thuê của người lao động thay vì xóa bỏ chế độ lao động làm thuê - nhiệm vụ chính yếu nhất của một cuộc cách mạng XHCN đích thực.
Do quan hệ sản xuất không mang tính chất XHCN đích thực, nên quan hệ sở hữu cũng mất đi tính chất công hữu XHCN đích thực mà lẽ ra nó phải có.
Cần nắm vững điều này để hiểu rằng không phải cứ quốc hữu hóa tư liệu sản xuất là quan hệ sở hữu đương nhiên trở thành XHCN, không phải cứ doanh nghiệp Nhà nước là mang tính chất XHCN, và không phải cứ có càng lắm doanh nghiệp Nhà nước là nền kinh tế càng mang tính chất XHCN, hay định hướng XHCN.
Thế nào là một nền kinh tế định hướng XHCN, điều đó sẽ được bàn kỹ hơn ở phần sau.
Còn nữa
Đoàn Tiểu Long (Tuần Việt Nam)

