Mặc dù nhiều chuyên gia kinh tế đồng tình về mục tiêu góp phần tạo sự ổn định cho chính sách tiền tệ của Thông tư 22/2010, vẫn có những băn khoăn về hiệu quả của thông tư này trong ngắn hạn.
Siết chặt vốn kinh doanh vàng
![]() |
Điều này thể hiện trong điều 2 và điều 3 của Thông tư 22, trong đó quy định tổ chức tín dụng chỉ được cho vay vốn bằng vàng để sản xuất (chế tác) và kinh doanh vàng trang sức, không được cho vay để sản xuất và kinh doanh vàng miếng, và không được chuyển đổi vốn bằng vàng thành tiền đồng và các hình thức bằng tiền khác. Đồng thời, tổ chức tín dụng cũng chỉ được huy động vốn bằng vàng thông qua giấy tờ có giá. Các quy định này khắt khe hơn với quy định trước đây, cho phép huy động bằng tiền đồng dưới hình thức tiết kiệm có kỳ hạn hoặc phát hành chứng chỉ huy động vàng có kỳ hạn, và vốn huy động bằng vàng được chuyển thành vốn tiền đồng (tối đa không quá 30% vốn huy động bằng vàng).
Như vậy, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nhắm vào việc cắt nguồn vốn bằng vàng tài trợ cho việc kinh doanh vàng miếng, mà phần nhiều là để đáp ứng nhu cầu tích trữ của người dân. Mặt khác, việc giới hạn chuyển đổi vàng thành vốn tiền đồng cũng khiến đầu ra của nguồn vốn huy động này bị hạn chế hơn đối với các ngân hàng. Vậy sắp tới việc huy động vàng có thể trở nên kém hấp dẫn hơn với các ngân hàng, và do đó lãi suất huy động vàng có thể giảm.Mục tiêu chính sách này nhắm vào giới hạn hoạt động kinh doanh vàng và cố gắng giảm rủi ro trong kinh doanh của một số ngân hàng, và như ông Nguyễn Ngọc Bảo, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ của NHNN, phát biểu trong một phỏng vấn gần đây là ông kỳ vọng điều này sẽ giúp “giảm nhập lậu, đầu cơ vàng và ngoại tệ, góp phần ổn định thị trường ngoại hối và tiền tệ”. Nhưng từ kỳ vọng đến tác động thực sự của chính sách vẫn còn một khoảng cách và có nhiều điều còn phải bàn.
Liệu có thể ổn định thị trường tiền tệ?
Thông tư 22/2010 thật ra chỉ đang nhắm tới trị ngọn chứ không phải trị gốc của vấn đề, và có lẽ sẽ chỉ có tác động ngắn hạn trong việc bình ổn thị trường vàng-tiền tệ nhưng lại gia tăng thêm những nguyên nhân gây bất ổn trong tương lai. Trong ngắn hạn, các ngân hàng đang có hành vi găm giữ vàng và đang tăng huy động vàng sẽ giảm các hoạt động này, và do đó sẽ có tác động bình ổn nhu cầu đầu cơ vàng. Tuy nhiên, việc giới hạn hoạt động huy động và cho vay vàng đối với hoạt động kinh doanh vàng miếng tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với sự cân bằng cung - cầu vàng trong nền kinh tế. Trước tiên, cần nhận thấy rằng nhu cầu tích trữ vàng trong dân là có thật và đã kéo dài từ nhiều năm qua, bất chấp hoạt động huy động vàng của ngân hàng thương mại có ra sao. Như vậy, những đợt biến động tăng giá vàng của thế giới sẽ kéo theo những đợt đột biến giá vàng trong nước, và đẩy nhu cầu tích trữ vàng và ngoại tệ tăng lên. Trong một nền kinh tế mà nhiều nguồn vốn còn nằm ngoài ngân hàng, thì liệu việc giới hạn vốn kinh doanh vàng của ngân hàng có bình ổn được thị trường vàng và ổn định được thị trường ngoại hối về lâu dài hay không? Không có nguồn vốn cho vay vàng từ ngân hàng, và các ngân hàng thương mại không găm giữ nhiều vàng nữa thì bản thân thị trường vẫn tồn tại một nguồn vốn kinh doanh vàng và ngoại tệ ở “thị trường tự do”. Việc giới hạn nguồn vốn ngân hàng hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh vàng miếng sẽ tạo ra áp lực về nguồn cung đối với vàng dành cho tích trữ trong dân. Như vậy, thông tư này hoàn toàn có thể tạo ra một hiệu ứng ngược là làm giảm nguồn cung vàng để đáp ứng nhu cầu đầu tư vào vàng, do đó, vô tình còn kích thích người ta tích trữ và làm giá vàng, đồng thời vẫn sẽ tạo ra động lực để nhập lậu vàng. Một điểm khác là việc chỉ cho vay vàng để sản xuất và kinh doanh vàng nữ trang thôi thì lãi suất huy động vàng sẽ không hấp dẫn và bản thân các ngân hàng cũng sẽ không muốn huy động vàng nhiều nữa. Kết quả là vàng vẫn sẽ nằm đâu đó trong dân mà không đi vào ngân hàng. Khả năng nguồn vốn này sẽ chuyển từ vàng thành tiền đồng và chuyển vào kênh kinh doanh là khó xảy ra khi mà giá vàng vẫn tiếp tục tăng mạnh ở trong nước và trên thế giới. Giữa việc vàng tích trữ trong dân đi vào ngân hàng và vẫn nằm đâu đó ngoài ngân hàng, thì cái nào sẽ có lợi hơn? Tóm lại, NHNN đang cố gắng áp đặt một chính sách kiểm soát hoạt động huy động và cho vay vàng của tổ chức tín dụng với mục tiêu điều chỉnh nhu cầu tích trữ và lưu thông vàng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, rủi thay nhu cầu này lại bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoại sinh và do đó mục tiêu chính sách này có thể không đạt được. Ngược lại, hiệu ứng phụ của chính sách này là nguồn vàng trong dân cư sẽ ít chảy vào ngân hàng hơn và nguồn cung vàng dành cho nhu cầu tích trữ và tiết kiệm trong dân có thể khan hiếm hơn. Cùng với việc nhập khẩu vàng đang bị hạn chế, có thể thấy nguy cơ có người cố tình tích trữ vàng, tạo ra khan hiếm nguồn cung giả để hưởng lợi càng lớn hơn trước vì tính thanh khoản sẽ sụt giảm. Nó cũng sẽ tạo ra động lực để người ta tiếp tục nhập lậu vàng và tìm cách “lách” chính sách này. Đến đây thì một câu hỏi cần được đặt ra là liệu NHNN có thể kiểm soát được hết các khoản vay của ngân hàng thương mại là chỉ để dành cho vay sản xuất và kinh doanh vàng trang sức hay không? Trong thời gian qua, chúng ta đã thấy không ít trường hợp các ngân hàng thương mại đã “cho vay sai mục đích” so với chính sách. Vì vậy, điều đáng lo ngại đầu tiên với hiệu quả của thông tư này là khả năng giám sám việc thực thi chính sách của NHNN. Can thiệp quá sâu vào hoạt động của các tổ chức tín dụng Một điểm khác cần lưu ý là NHNN cho rằng một số ngân hàng gặp nhiều rủi ro trong việc huy động và cho vay bằng vàng, do đó cần kiểm soát hoạt động này. Liệu NHNN đã can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại? Ngân hàng có những lựa chọn phòng ngừa rủi ro các khoản huy động và cho vay này, và nếu không thực hiện, dẫn đến thua lỗ thì họ phải chịu trách nhiệm. Quy định quá nhiều thứ “được làm” và “không được làm” đối với ngân hàng thương mại sẽ dễ dẫn đến việc can thiệp quá mức vào hoạt động của ngân hàng thương mại. Điều này sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh và khả năng linh hoạt của các ngân hàng thương mại. Nó sẽ trở thành một điểm trừ về môi trường kinh doanh của Việt Nam trong mắt giới đầu tư quốc tế. Hồ Quốc Tuấn - Nghiên cứu sinh tiến sĩ, Đại học Manchester, AnhTBKTSG Sự kỳ vọng quá mức Có ý kiến cho rằng Thông tư 22 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về quản lý huy động và cho vay bằng vàng đối với các tổ chức tín dụng sẽ góp phần giúp bình ổn thị trường vàng và ngoại hối trong dài hạn. Quan điểm này giống với quan điểm của NHNN, ngoài ra NHNN còn cho rằng thông tư này còn có thể giải quyết tình trạng đô la hóa nền kinh tế. Liệu Thông tư 22 có khả năng thực hiện các mục tiêu vừa nêu? Theo Thông tư 13 (quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng) có hiệu lực vào đầu tháng 10-2010, tỷ lệ khả năng chi trả (tỷ lệ giữa tổng tài sản “có” thanh toán ngay và tổng nợ phải trả) của các ngân hàng không được nhỏ hơn 15%. Các ngân hàng được phép tính giá trị sổ sách vàng (tại quỹ và gửi tới NHNN) vào tài sản “có” thanh toán ngay. Với xu hướng giá vàng tăng và giá trị tiền đồng giảm, thay vì giữ tiền đồng không có lợi, các ngân hàng ưu tiên giữ vàng để đảm bảo tỷ lệ 15% này. Điều đó làm tăng nhu cầu vàng, góp phần tạo áp lực lên giá vàng trong nước. Hệ quả là cần ngoại tệ nhập vàng, góp phần gây áp lực lên thị trường ngoại hối. Thông tư 22, ban hành ngày 28-10-2010, quy định ngân hàng chỉ được phép huy động vốn bằng vàng thông qua phát hành giấy tờ có giá. Như vậy, việc huy động vàng sẽ bị hạn chế. Trong điều kiện giá trị tiền đồng có xu hướng giảm, nếu các ngân hàng khó giữ được tài sản “có” dưới hình thức vàng do bị hạn chế bởi thông tư này, họ sẽ thay nó bằng ngoại tệ. Điều này vẫn tạo áp lực lên thị trường ngoại hối và vẫn làm tăng tình trạng đô la hóa. Bên cạnh đó, nếu các ngân hàng đề nghị được phát hành giấy tờ có giá để huy động vàng cho mục đích dự trữ thì đó là mục đính chính đáng, NHNN khó từ chối. Hơn nữa, nếu bị từ chối, các ngân hàng có thể dùng điều này làm lý do cho việc không đạt tỷ lệ 15% nói trên. Còn nếu NHNN cho phép thì nhu cầu vàng vẫn tăng và như vậy vẫn gây áp lực lên thị trường vàng và sau đó là thị trường ngoại hối. Như vậy xem ra Thông tư 22 khó đảm đương được vai trò như các chuyên gia và NHNN mong đợi. Phạm Phú Quốc
