Trong bối cảnh hiện nay, lãi suất được “thả nổi” theo tín hiệu thị trường, đương nhiên lãi suất cho vay trong thời gian tới sẽ tăng theo, cộng với việc tỷ giá leo thang thì đối tượng chịu thiệt đầu tiên sẽ là các doanh nghiệp.

Hoạt động của các doanh nghiệp tới cuối năm, chịu sức ép nặng nề từ ảnh hưởng của lãi suất cho vay tăng và tỷ giá
Tại cuộc họp ngày 5/11 giữa Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo các ngân hàng thương mại Nhà nước, lãnh đạo một số ngân hàng thương mại cổ phần và Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, theo đề xuất của các lãnh đạo ngân hàng tham dự, các ngân hàng đã đồng thuận nâng lãi suất huy động VND lên mức không quá 12%/năm, thời hạn bắt đầu thực hiện từ ngày 8/11 tới. Trước đó, ngày 4/11, Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia đã phát đi thông điệp của Chính phủ “thả nổi” lãi suất theo thị trường.
Trước khi có đồng thuận lãi suất 12%/năm đối với tiết kiệm VND, các ngân hàng đã có thỏa thuận giữ mức lãi suất huy động cao nhất là 11%. Trong thời gian vừa qua, NHNN kết hợp khá chặt chẽ với Hiệp hội Ngân hàng kéo mặt bằng lãi suất cho vay trong quý 1/2010 từ 17% - 18% xuống mức phổ biến 13% - 14%/năm tại thời điểm hiện nay. Nhiều ngân hàng còn hạ lãi suất cho vay đối với 3 đối tượng ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ (xuất khẩu, doanh nghiệp khu vực nông thôn, doanh nghiệp vừa và nhỏ) còn 11,5% - 12%/năm. Nhờ đó, các đối tượng này đã tiếp cận được nguồn vốn để phục hồi sản xuất.
Tuy nhiên, do nguy cơ lạm phát tăng cao, các nhà băng cùng đồng thuận với một mặt bằng huy động mới là 12%/năm.
Một động thái khác, NHNN tăng lãi suất cơ bản từ 8% - 9%, có nghĩa là các ngân hàng được phép niêm yết lãi suất huy động lên tới 13,5%. Động thái này của NHNN nhằm mục đích nâng giá trị đồng nội tệ và thu hút người dân quay sang sử dụng tiền đồng. Tuy nhiên, nâng lãi suất cơ bản lên 9% sẽ khiến đầu vào của doanh nghiệp tăng lên. Trong bối cảnh cạnh tranh như hiện nay, việc này sẽ khiến doanh nghiệp càng thêm khó khăn.
Ngay sau khi có sự đồng thuận mặt bằng huy động mới là 12%/năm từ Hiệp hội Ngân hàng, nhiều ngân hàng đã đồng loạt áp dụng lãi suất 12%. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là ngân hàng đầu tiên tuyên bố điều chỉnh lãi suất huy động và cho vay các kỳ hạn sẽ xoay quanh 12%/năm. Habubank cũng nằm trong số những ngân hàng đầu tiên công bố đưa lãi suất tiết kiệm VND lên 12% /năm đối với các kỳ hạn kể từ 1 tháng, áp dụng từ 8/11. Ngân hàng Công thương Việt Nam cũng đã công bố mức lãi suất tiết kiệm mới giống các ngân hàng cổ phần và cũng bắt đầu từ kỳ hạn 1 tháng…
Một số ngân hàng đoán rằng, lãi suất hai chiều sẽ tăng mạnh, huy động có thể lên tới 14%/năm và cho vay khoảng 16 - 17%/năm. Với mức này thì các ngân hàng sẽ rất khó bơm vốn ra và không hiểu doanh nghiệp nào sẽ chịu được giá vốn này, khi mà thời điểm cuối năm dồn dập nhu cầu vốn lưu động để thanh toán, chi trả chi phí.
Đó là chưa kể, trong cơn sốt tỷ giá trước đó, nhiều doanh nghiệp đã phải tính đến chuyện sẽ phải trích lập thêm dự phòng chênh lệch tỷ giá cho khoản vay dài hạn bằng USD. Việc Ngân hàng Nhà nước bơm ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu thị trường là đúng. Tuy nhiên, chỉ ưu tiên bán USD cho doanh nghiệp nhập các nhu yếu phẩm cần thiết như vật tư, máy móc... Như vậy không phải doanh nghiệp nào cũng được đáp ứng đủ nhu cầu USD và sẽ vẫn phải đi mua từ thị trường tự do.
Theo nhiều ý kiến, mặc dù NHNN có những bước can thiệp để ổn định thị trường ngoại tệ song tỷ giá sẽ khó quay về mức 19500 mà nó sẽ có một độ dãn nhất định, và khả năng sẽ ở mức 20.000VND/USD. Còn trên thị trường vàng, nếu giá vàng thế giới vẫn có xu hướng tăng vượt ngưỡng 1400 USD/ouce thì cho dù có điều chỉnh tỷ giá thì giá vàng trong nước vẫn khó có thể về mức dưới 34 triệu đồng/lượng.
Theo TS Lê Xuân Nghĩa - Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, một trong những giải pháp cơ bản để ổn định tỷ giá là can thiệp thị trường và tăng lãi suất đồng nội tệ, tạo lợi thế cho VNĐ để khuyến khích người gửi tiết kiệm USD chuyển sang gửi VNĐ, tăng niềm tin cho nhà đầu tư nước ngoài đổ vốn vào Việt Nam. Mặt khác, khi lãi suất tăng lên cũng kiểm soát được tín dụng đang có xu hướng vượt qua chỉ tiêu 25%, góp phần kiềm chế lạm phát... Tuy nhiên, đây chỉ là biện pháp nhất thời. Về lâu dài, NHNN phải có biện pháp kéo lãi suất đi xuống vì nếu để chênh lệch giữa lãi suất với lạm phát ở mức 3% là quá sức chịu đựng của doanh nghiệp, đồng thời quá cao so với thị trường tài chính quốc tế.
TS Cao Sĩ Kiêm - nguyên thống đốc Ngân hàng Nhà nước, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tiền tệ quốc gia cho rằng, các ngân hàng sẽ đua nhau tăng lãi suất thỏa thuận và như vậy rất có thể sẽ hình thành một mặt bằng lãi suất mới. Điều này sẽ đẩy chi phí, giá thành, chỉ số giá tiêu dùng...tăng lên. Ông cũng dự báo trong thời gian tới, lãi suất sẽ lên sát với cung cầu hiện nay. Lãi suất thực tế thời gian qua là 14%-15%/năm nhưng đã kéo xuống 11%. Thời gian tới, lãi suất thỏa thuận có thể lên tới mức lãi suất thực tế trước đây.
Lãi suất được điều chỉnh theo tín hiệu thị trường, đương nhiên lãi suất cho vay trong thời gian tới sẽ tăng theo. Đây sẽ là điều khó khăn đối với doanh nghiệp nhất là trong bối cảnh doanh nghiệp cần vốn để mua hàng chuẩn bị sản xuất sang năm, cũng như thanh toán các khoản vay đến kỳ đáo hạn.
Châu Huệ (DĐDN)