Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Lao động xuất khẩu: Có những đứa con ngoài rìa chợ (kỳ 2)

14/11/2010 11 phút đọc Nguyễn Huy Cường (Tamnhin.net)
Ở đây chưa nói đến sự hợp lý hay không hợp lý của các quy định, mà chỉ nói đến sự lỏng lẻo từ nội dung đến
Lao động xuất khẩu: Có những đứa con ngoài rìa chợ (kỳ 2)

Ở đây chưa nói đến sự hợp lý hay không hợp lý của các quy định, mà chỉ nói đến sự lỏng lẻo từ nội dung đến giám sát thực hiện các định chế này như hiện nay, là một tảng nặng khó khăn dồn lên đầu người trực tiếp lao động.

 

Lao động xuất khẩu Việt Nam tại Nhật

Người lao động mất gì

Phần lớn người tham gia lao động xuất khẩu lần đầu đều có đặc điểm chung: Họ là dân vùng khó khăn, học hành không đến đầu đến đũa, hiểu biết về pháp luật rất hạn chế nên khi tiếp xúc với các “đoàn” chiêu dụ lao động về địa phương. Thường thì đoàn “nói sao, họ nghe nấy”.

Ngay từ phía nhà nước, cho đến nay, hàng loạt định chế đã ra đời để quy quản nghề môi giới xuất khẩu lao động (XKLĐ) nhưng quan sát kỹ, nhiều nghị định, thông tư có chỉ để có, thường bị các công ty môi giới qua mặt dễ như bỡn.

Từ mặt bằng này, người lao động chịu rất nhiều thua thiệt.

Xin đơn cử, Bộ Lao động –Thương binh - Xã hội (LĐ-TB-XH) đã có Quyết định số 61/2008/QĐ-LĐTBXH và bản phụ lục rất tường tận quy định rõ hạn mức được thu phí của người lao động với dòng văn ghi rõ  “Không quá một tháng lương – không tính tiền làm thêm của người lao động” (nguyên văn). Cụ thể hơn, với thị trường đi Cộng hòa Sec không được thu quá 1.500 USD cho mọi ngành nghề nhưng Công ty Vật tư thiết bị đường sắt Virasimex trong một đợt tuyển dụng vẫn ngang nhiên thu của người lao động từ 1.500 đến 2.000 USD và cho đó là “không cao”.

Cao hay không cao?

Ngay ở quy định nói trên, có vẻ đã “chân phải đá chân trái” khi vừa quy định “không quá một tháng lương” nhưng nên biết rằng, bản “phụ lục” này nêu “điểm sàn” ngay sau đó là 1.500 USD thực ra đã là gần... ba tháng lương rồi, bởi rất nhiều ngành nghề ở Sec chỉ đạt 500 USD/ tháng. Có những đơn hàng về nguyên tắc, hợp đồng chỉ có giá trị một năm. Do đó điều bi hài dễ thấy là 1.500 USD đã “vượt khung” ba lần.

Loại quy định có màu sắc cào bằng này là mảnh đất màu mỡ cho các công ty môi giới “tận thu" tiền bạc rất... hợp pháp.

Tại thời điểm nói trên (2008) mức lương của người lao động ở Cộng hòa Sec chỉ từ 500 USD đến 800 USD (Theo ý kiến của Cục trưởng Cục Lao động Nguyễn Thanh Hòa). Trên thực tế, không phải ai cũng làm đủ ngày trong một tháng, làm đủ tháng trong một năm, chưa kể đến việc nộp lại thuế thu nhập cho nhà nước sở tại nên có thể thấy, mức lương chính, nếu tính bình quân chỉ khoảng 600 USD thôi (trường hợp người lao động cày cục làm thêm là quyền, là mồ hôi của họ, không đề cập ở đây).

Trên đây là ví dụ cụ thể ở Virasimex, trên thực tế nhiều công ty thu cao hơn nhiều.

Cần nói thêm là trong cơ chế hiện hành, Bộ LĐ-TB-XH có lập hẳn một Quỹ hỗ trợ XKLĐ do một thứ trưởng phụ trách. Nguồn thu là 100.000 đồng một lao động và 1% trên tổng thu của các công ty môi giới. Trong các mục đích chi, có khoản hỗ trợ cho người sắp đi học nghề, học tiếng nhưng thực chất, người lao động rất ít khi nhận được khoản này.

Như ở bài một đã nói, người lao động còn phải đóng góp nhiều thứ “phí” không tên khác. Cụ thể, diện đi theo “đơn hàng bánh kẹo” hay “đơn hàng cơ khí” hồi tháng 7 năm 2008 của nhiều lao động ở TP Việt Trì, huyện Cẩm Khê, Phú Thọ và một số địa phương khác phải đóng góp tất thảy trên 3.000 USD trước khi đi theo hợp đồng với Công ty I. tại Hà Nội.


Những thanh niên Phú Thọ này sau nửa năm theo đuổi, đóng góp mỗi người 3.000 USD rồi... giải tán.

Do đó, có thể thấy, người lao động thường phải bỏ ra gần nửa năm lương cho các loại “phí” này. Ở đây chưa nói đến sự hợp lý hay không hợp lý của các quy định mà chỉ nói đến sự lỏng lẻo từ nội dung đến giám sát thực hiện các định chế này như hiện nay, là một tảng nặng khó khăn dồn lên đầu người trực tiếp lao động.

Trong nội dung của quyết định về việc thành lập, quản lý và sử dụng quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước số 144/2007/QĐ – TTg ngày 31/8/2007 của Thủ tướng chính phủ có quy định về việc dùng quỹ này cấp phát cho các chức sắc của các cơ quan tham gia XKLĐ đi nước ngoài khảo sát thị trường hoặc giải quyết các tranh chấp giữa lao động và chủ sử dụng lao động khi các biến động xảy ra.

Nên hiểu rằng, lợi nhuận thu được của ngành này là siêu lợi nhuận. Như trên đã nói, lực lượng “ngay lưng” này đã xớt gọn một phần ba đến nửa số lương của lực lượng “còng lưng” làm ra trong một hai năm rồi.

Các hoạt động thăm dò, khảo sát, giải quyết các phát sinh, theo thuật ngữ kinh tế, chính là “đầu vào” của các loại hình kinh doanh này. Họ nên trích từ khoản lợi nhuận rất lớn của họ ra để chi trả cho việc ấy thì hợp tình hợp lý hơn là phải chờ “hỗ trợ” từ quỹ này quỹ nọ.

Ngành xuất khẩu lao động đi về đâu?

Nhìn về cơ chế, có vẻ đã có một “ngành” chuyên xuất khẩu lao động ra đời. Nhưng nhìn thật sâu, thấy rằng, hiện nay ngành này với tính hấp dẫn của nó, thu hút bất cứ công ty nào muốn “ghé” vào làm ăn trong khu vực này đã có biểu hiện lộn xộn. Pháp luật và các quy định của các sở kế hoạch đầu tư không ngăn cản người ta ghi vào giấy phép đăng ký kinh doanh nhóm nghề “xuất khẩu lao động”. Việc tạo vài điều kiện thích ứng với quy định này để có cái “phép” ấy cũng dễ như hái rau ngoài vườn.

Từ đó, có trường hợp, sau bốn tháng cò cưa, tốn kém rồi giải tán không vì lỗi của người lao động, nhưng người lao động không thể kiện tụng công ty môi giới vì họ không có mảnh giấy lận lưng nào ngoài một tấm giấy “giấy tạm thu” ghi một khoản duy nhất là tiền “thế chân”. Các khoản khác, công ty trả thì được, không thì thôi.



Có những trường hợp các công ty này vi phạm pháp luật, chiếm dụng vốn của ngân hàng hoặc của người lao động rất rõ ràng.

Cụ thể, theo ông Nguyễn Văn Lý - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội, có những doanh nghiệp chiếm dụng vốn của người lao động từ năm 2006 đến 2008, như Công ty Incomex đã nhận 313 triệu đồng của 17 lao động.

Theo tổng hợp từ Ngân hàng Chính sách xã hội, hiện tượng chiếm dụng vốn vay của người lao động không phải là chuyện cá biệt, không ít doanh nghiệp có biểu hiện chiếm dụng kiểu này. Chiếu đúng quy trình, người lao động khi được tuyển dụng, doanh nghiệp sẽ hỗ trợ họ làm các thủ tục vay vốn ngân hàng để trả các khoản phí trước khi xuất cảnh, tiền giải ngân sẽ được chuyển thẳng về cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp đã nhận được tiền trong nhiều năm, không đưa được lao động đi, cũng không trả tiền để người lao động trả nợ ngân hàng.

Sau khi có giấy phép, có vẻ như mọi việc đã xong. Chỉ cần kết hợp với những “tai mắt” ở các nước hoặc tiếp thu một số thông tin sơ bộ là có thể biến thành gói dịch vụ, thu tiền của người lao động.

Sau đó, người lao động bước lên máy bay là “bên này” gần như hết trách nhiệm. Hãy nhìn những cam go, luồn lách cực kỳ khổn khổ, đôi khi phải đổi bằng cả sự tù đày, tính mạng của người lao động ở Malaysia, Hàn Quốc, Nga... nhưng các “nhà tuyển dụng” hầu như vô can.

Sau khi đụng phải bi kịch, kể cả việc “tuyển hụt, tiêu tiền thật” hay đi rồi về vì vỡ lở hợp đồng, chưa mấy ai nhận được tiền hỗ trợ từ cấp vĩ mô như trong những “quỹ” nêu trên mà hầu hết phải tự bươn chải, đánh vật với các “trung tâm” kia đòi lại tiền rồi may nhờ, rủi chịu.

Cần phải thấy rằng, nếu coi xuất khẩu lao động là một “nghề” thì nghề đó chính là một nghề “nhạy cảm” vì nó liên quan đến tính mạng, danh dự và quyền lợi của công dân Việt Nam ở xa tổ quốc. Nó cần phải được thực hiện bởi các công ty chuyên biệt chứ không thể chỉ là loại danh mục nghề dạng “thêm kèm” vào danh mục nghề nghiệp của doanh nghiệp hiện nay. Nó phải được quy quản với những chế tài minh bạch, trách nhiệm và trong nội dung công tác, nó phải đảm bảo không những yếu tố pháp lý mà còn phải hết sức chú trọng đến chất lượng của đối tác để “tìm người có đức gửi thân, tìm người có nhân gửi của” như ông cha ta nói.

Ở bất cứ nước nào, không thiếu những chủ sở hữu lao động thuộc dạng bất trị. Loại này (như một số chủ thuyền câu cá mực ngoài đại dương của Đài Loan hoặc một số chủ thầu xây dựng ở Nga, Malaysia v.v...) sẵn sàng coi thường công pháp quốc tế, coi thường luôn cả pháp luật nước họ và biến lao động của ta như những món hàng với những cư xử cực kỳ tệ hại.

Về cơ chế, nên chăng đã đến lúc, các cơ quan tham gia xuất khẩu lao động phải đóng một khoản tiền đủ lớn để chế tài dành cho những khoản buộc họ phải đền bù cho người lao động khi họ có lỗi.

Cơ chế hiện nay sẽ không loại trừ cảnh đến khi hợp đồng vỡ lở, người lao động lần mò trở về, tìm đến “trung tâm” kia thì chỉ còn gian nhà thuê đã hết hạn, có thể công ty này đã giải tán hoặc sát nhập với một tập đoàn khác. Người lao động chỉ còn nước... khóc.

Hiện nay, đang có hàng trăm ngàn lao động xa tổ quốc, trong những năm tới tiềm năng này còn tiếp tục phát triển. Đây là một trong những hướng xóa nghèo, dựng giàu rất hữu hiệu. Không nên muộn hơn, Bộ LĐ-TB-XH nên tổng rà soát lại từ cơ chế đến hạn mức thu chi, hình thức chế tài, giám sát để giúp cho người lao động yên tâm làm ăn, đem một khối lượng rất lớn ngoại tệ về cho họ cũng là cho đất nước, không để các “nhà thầu” lao động xuất khẩu coi như “chùm khế ngọt” rồi thỏa sức vặt như hiện nay.

Kiểu “giải quyết” của công ty Việt Thắng - Hải Phòng nêu trong phần đầu, khuyên người lao động cứ đi làm, chờ đến khi hết khủng hoảng kinh tế thế giới sẽ được trả lương, ai về thì bỏ tiền túi ra mà về không phải là cá biệt. Hình ảnh đem con bỏ chợ như thế này phải được các ngành đặc biệt quan tâm, chấn chỉnh.

Bài và ảnh: Nguyễn Huy Cường (tamnhin.net)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu