“Lỗi hẹn” 3 năm
Mục tiêu tăng trưởng GDP 7-7,5% trong năm 2011 đặt trong bối cảnh vừa phải ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát sẽ là một thách thức không nhỏ. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tỷ lệ đầu tư phát triển trên GDP luôn ở mức trên 40%, dư nợ công hiện bằng 56% GDP và để đạt mục tiêu tăng trưởng thì phải nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư của nhà nước bao gồm các khoản vay ODA. Mỗi dự án, công trình chậm tiến độ không chỉ gây lãng phí về nguồn lực mà còn chất thêm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.
![]() |
| Có những thời điểm một số hạng mục của dự án xây dựng Trung tâm sản xuất chương trình thuộc Đài Truyền hình Việt Nam đình trệ vài ba tháng thậm chí đến hơn một năm (ảnh: PV) |
Dự án xây dựng Trung tâm sản xuất chương trình thuộc Đài Truyền hình Việt Nam, với tổng vốn đầu tư (giai đoạn 1, bước 1) trên 117 triệu USD (sử dụng vốn vay ODA của Nhật Bản và vốn đối ứng Việt Nam là 15%) bị chậm tiến độ 3 năm là một trong số dự án giảm hiệu quả đầu tư, tăng gánh nặng cho ngân sách.
+ Dự án xây dựng Trung tâm sản xuất chương trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 24/9/1997 với tổng mức vốn đầu tư là 385,85 triệu USD và giao Đài Truyền hình Việt Nam làm chủ đầu tư. + Giai đoạn 1 (bước 1) của dự án được TGĐ Đài Truyền hình Việt Nam phê duyệt năm 2003 với tổng dự toán trên 162 triệu USD. + Đầu tháng 4/2009, VTV-PMU đơn phương hủy hợp đồng đối với Liên danh nhà thầu, dẫn đến vụ tranh chấp quốc tế. Ngày 28/7/2010, VTV-PMU mới ký hợp đồng với Hitachi Plant Technologies – nhà thầu Nhật Bản được chỉ định hiện phần còn lại của gói thầu XL-1. |
Tính đến nay, dự án bị chậm tiến độ hơn 2 năm và theo phản ánh của CBCNV Đài Truyền hình Việt Nam thì có những giai đoạn dự án bị đình trệ kéo dài nhiều tháng, thậm chí đến hơn 1 năm với nhiều vấn đề phát sinh khi thi công, trong khi cơ sở vật chất của Đài còn thiếu thốn, phải đi thuê. Theo mục tiêu đề ra thì dự án hoàn thành đảm bảo sản xuất được 50% thời lượng chương trình truyền hình phát trong ngày trên các kênh, không kể thời gian phát lại với công suất dự kiến gấp 4 lần công suất hiện có.
Việc dự án châm tiến độ đồng nghĩa việc ngân sách Nhà nước phải tăng thời gian trả lãi vay do thời gian thi công kéo dài (ít nhất đến cuối năm 2011 mới hoàn thiện).
Cũng theo phản ánh của CBCNV Đài Truyền hình Việt Nam, gói thầu XL-1 chậm tiến độ kéo theo sự chậm trễ của gói thầu về thiết bị (XL-2) dẫn đến số thiết bị nhập khẩu trị giá 34 triệu USD chưa thể đưa vào khai thác, sử dụng theo kế hoạch. Mà số thiết bị truyền hình này sau 2 năm đã bị lạc hậu về công nghệ, nhiều chủng loại đã ngừng sản xuất và hết thời hạn bảo hành…
Tranh cãi
Trở lại gói thầu XL-1 do Liên danh thực hiện, cũng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc kéo dài toàn bộ dự án Trung tâm sản xuất chương trình. Theo phản ánh của CBCNV Đài Truyền hình Việt Nam, sự chậm trễ về tiến độ được nhà thầu tư vấn quốc tế NHK-ITEC (Nhật Bản) và VTV-PMU phát hiện từ cuối năm 2007, đầu 2008. Nhưng vì nhiều lý do, VTV-PMU chưa quyết liệt với Liên danh nhằm xử lý dứt điểm các vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ thực hiện gói thầu theo hợp đồng.
Một nguyên nhân khác gây chậm tiến độ thực hiện dự án, đó là các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng giữa VTV-PMU và Liên danh đã chưa được xử lý thỏa đáng theo pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.
Do những vướng mắc 2 bên không thể thỏa thuận, ngày 3/4/2009, Liên danh có văn bản thông báo từ chối thực hiện hợp đồng. Và ở thời điểm này dự án đã bị chậm tiến độ hơn 10 tháng.
Vinci – Sumitomo Mitsui là Liên danh nhà thầu quốc tế hùng mạnh, cả 2 cùng nằm trong Top 200 công ty lớn nhất thế giới, trong đó, Vinci (Pháp) có doanh thu gần 42 tỷ USD năm 2009 (hạng 163 thế giới), và Sumitomo (Nhật Bản) có doanh thu trên 40 tỷ USD (hạng 173 thế giới) (Nguồn CNN). |
Đến thời điểm VTV-PMU đơn phương hủy hợp đồng với Liên danh, nhà tư vấn NHK-ITEC đánh giá lại khối lượng Liên danh đã hoàn thành là 85% gói thầu XL-1. Căn cứ trị giá gói thầu thì phần còn lại chỉ còn khoảng 15% trong tổng gói thầu khoảng 71 triệu USD và Liên danh đã tạm ứng hầu hết khối lượng đã thi công.
Vẫn theo phản ánh của CBCNV Đài Truyền hình Việt Nam, việc VTV-PMU đơn phương hủy hợp đồng tạo “cơ hội vàng” để Liên danh rút khỏi dự án. Việc này còn còn dẫn đến một vụ tranh tranh chấp quốc tế và Liên danh đã thuê hãng luật của Pháp tư vấn để kiện VTV-PMU ra Trọng tài quốc tế phân xử, với yêu cầu đòi bồi thưởng vài chục triệu USD.
Chưa có tiền lệ
Vụ kiện giữa Liên danh và VTV-PMU được xem là chưa có tiền lệ trong một dự án sử dụng vốn ODA. Trong văn bản gửi lãnh đạo các cơ quan Đảng, Nhà nước và Chính phủ, một cán bộ ban dự án mua sắm thiết bị (Đài Truyền hình Việt Nam) cho biết, đây là dự án thuộc nhóm A (thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ) nên việc VTV – PMU ra quyết định hủy hợp đồng chỉ sau một ngày nhà tư vấn NHK-ITEC có văn bản thông báo lỗi vi phạm hợp đồng của nhà thầu là quá gấp gáp. Chỉ trong vòng một ngày thì liệu VTV-PMU có đủ thời gian cân nhắc các yếu tố pháp lý, xin ý kiến chỉ đạo của các Bộ, ngành liên quan và đặc biệt Thủ tướng Chính phủ? Cần lưu ý, việc hủy hợp đồng là một trong những nguyên nhân dẫn đến vụ tranh chấp quốc tế.
Làm việc với các Bộ, ngành liên quan, VTV-PMU và nhà thầu tư vấn NHK-ITEC cho rằng lỗi thuộc về Liên danh. Tuy nhiên, căn cứ những nội dung mà Liên danh kéo VTV-PMU vào vụ kiện quốc tế đòi bồi thường thì có nội dung do hợp đồng mâu thuẫn, sơ hở; có nội dung có thể giải quyết một phần theo quy định của pháp luật Việt Nam; có nội dung Liên danh có lý…
Đơn cử nội dung hoàn thuế VAT đầu vào, trước khi có vụ kiện, VTV-PMU và nhà thầu đã có tham vấn ý kiến của cơ quan thuế và được Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính) có văn bản trả lời, hướng dẫn cụ thể. VTV-PMU cho rằng Liên danh không được hoàn thuế VAT dẫn đến tranh chấp kéo dài và xảy ra kiện tụng. Trong khi đó, quan điểm của Tổng cục Thuế cho phép hoàn thuế VAT đầu vào cho Liên danh.
![]() |
| Ngày 28/7/2010, VTV-PMU mới ký hợp đồng với Hitachi Plant Technologies – nhà thầu Nhật Bản được chỉ định hiện phần còn lại của gói thầu XL-1 (Ảnh: www.vtv.vn) |
Trả lời VTC News, ông Hoàng Phước Hiệp, Vụ trưởng Vụ Pháp luật quốc tế (Bộ Tư pháp) cho biết, vụ tranh chấp giữa Liên danh và VTV-PMU kéo dài từ đầu tháng 4/2009 đến nay vẫn chưa giải quyết xong.
Ông Hoàng Phước Hiệp cũng nói rằng, đối với những dự án sử dụng vốn vay ODA trị giá hàng trăm triệu USD thì sự chậm trễ dự án có thể gây tổn thất cho ngân sách mỗi ngày vài trăm nghìn USD (tiền lãi), chưa kể các thiệt hại khác.
Là thành viên đoàn đàm phán gia nhập WTO của Chính phủ, từng tham vấn nhiều vụ tranh chấp quốc tế có một bên là Việt Nam, ông Hoàng Phước Hiệp đánh giá, một trong những nguyên nhân dẫn đến các vụ kiện quốc tế (và phía Việt Nam bị xử thua) là do nguyên nhân chủ quan – trực tiếp là năng lực của chủ dự án. Phía Việt Nam thậm chí “chưa nắm rõ pháp luật Việt Nam”, ông Hiệp nói.
Đây là một dự án lớn (tại thời điểm phê duyệt là dự án nhóm A) nhưng VTV-PMU còn rất thiếu kinh nghiệm về pháp luật quốc tế cũng như Việt Nam, đồng thời còn chủ quan trong đàm phán hợp đồng dẫn đến sự mâu thuẫn về điều khoản và thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Còn nhà tư vấn HNK-ITEC đã không hoàn thành nhiệm vụ tư vấn cho chủ đầu tư và VTV-PMU trong việc xây dựng hợp đồng dẫn đến việc hai bên gặp khó khăn ngay từ khâu đầu tiên là hai bên không thống nhất được tòa án nào sẽ xử khi xảy ra tranh chấp. Vụ việc không trở nên căng thẳng và khó khăn nếu như tư vấn thực hiện tốt chức năng giám sát, cập nhật và thông báo kịp thời thông tin cho các bên để xử lý những vướng mắc hoặc sai sót của các bên trong quá trình thực hiện…
Vụ tranh chấp quốc tế khiến dự án kéo dài thêm ít nhất một năm rưỡi. Đến cuối tháng 7/2010 thì VTV-PMU mới ký hợp đồng với Hitachi Plant Technologies – nhà thầu Nhật Bản được chỉ định hiện phần còn lại của gói thầu XL-1 (đặt tên là XL-1A).
Theo tiến độ dự kiến, ít nhất đến cuối năm 2011 dự án mới hoàn thành và vì lý do chậm trễ này, các khoản chi phí cho dự án tiếp tục đội lên bao gồm các khoản: lãi vay vốn ODA, chi phí cho vụ kiện…
Nhóm PVĐT VTC News

