Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

“Ngại” kiều làm ăn bằng "quan hệ" của VN

16/03/2011 7 phút đọc Phạm Huyền
Chi phí bôi trơn ảnh hưởng nghiêm trọng tới thiện cảm của các doanh nghiệp FDI. Thói quen làm ăn dựa trên quan hệ sân sau
“Ngại” kiều làm ăn bằng "quan hệ" của VN

Chi phí bôi trơn ảnh hưởng nghiêm trọng tới thiện cảm của các doanh nghiệp FDI. Thói quen làm ăn dựa trên quan hệ sân sau với quan chức Nhà nước đang khiến các DN FDI không muốn bắt tay làm ăn với doanh nghiệp Việt Nam, các chuyên gia nghiên cứu năng lực cạnh tranh cấp tỉnh khuyến nghị.

 

Chia sẻ với báo chí hôm 16/3, các chuyên gia gồm Tiến sĩ Edmund Malesky, đại diện USAID, bà Virgnia Noote, đại diện Phòng Thương mại công nghiệp Hoa Kỳ- Amrcham và ông Trần Hữu Huỳnh, Phó tổng thư ký VCCI đã đưa ra những lưu ý quan trọng cho chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sau này của Việt Nam.

 

- Chi phí hoa hồng là vấn đề khá nhạy cảm của doanh nghiệp. Vậy, nhóm nghiên cứu  làm thế nào để có câu trả lời chính xác về vấn đề này mà không ảnh hưởng quyền lợi của doanh nghiệp?

 

Ông Edmund Malesky: Chi phí bôi trơn là liên quan vấn đề tham nhũng, hối lộ. Là doanh nghiệp thì ai cũng ngại trả lời câu hỏi này. Vì nếu trả lời là có, họ sẽ thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật của mình, họ sẽ lo ngại bị trừng phạt. Ban đầu, chúng tôi cũng từng yêu cầu họ trả lời nhưng theo kiểu chung chung. Ví dụ như, theo quí vị, các doanh nghiệp trong ngành hàng quí vị có phải đưa hối lộ không? Như vậy, nếu trả lời có thì cũng không có nghĩa là họ nói chính họ đưa hối lộ.

 

Năm nay, chúng tôi đưa ra 2 bảng câu hỏi, một bảng liệt kê các mục và hỏi họ đã bao giờ tham gia vào hoạt động này hay chưa? Mẫu thứ 2 là thêm những câu hỏi nhạy cảm vào, có tham gia hay không? Như vậy, thay vì trả lời thẳng là có hội lộ hay không, có chỉ việc xác nhận có hay không. Chúng tôi dùng mô hình tính toán để đưa ra kết quả cụ thể về việc chi trả chi phí không chính thức. Như vậy, các doanh nghiệp tham gia điều tra cảm thấy an toàn hơn.

 

Các đại biểu tại hội thảo ngày 16/3. Ảnh: Phạm Huyền

 

- Các doanh nghiệp FDI ít chọn đối tác trong nghiệp trong nước làm thầu phụ, liên doanh, cùng đó, họ nhập khẩu bên ngoài nhiều hơn. Nhóm nghiên cứu đánh giá thế nào về việc này?

 

Bà Virgnia Noote, đại diện Amrcham: Nhiều DN muốn vào Việt Nam, vì Việt đã được danh tiếng củng cố khi trở thành thanh viên của WTO. Nhưng khi đến sau lần 1, lần 2, lần 3, họ lại quyết định không vào Việt Nam nữa. Với các doanh nghiệp Mỹ, họ tập trung các vấn đề như quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, thiết chế pháp lý, để quyết định đầu tư tại đây hay không.

 

Với việc gì sao, các doanh nghiệp FDI không chọn đối tác Việt Nam, qua trao đổi, nổi lên một vấn đề là, các doanh nghiệp Mỹ nhìn thấy, những doanh nghiệp này lại có anh, chị em nắm cương vị quan trọng trong cơ quan Nhà nước. Họ thấy, nhờ quan hệ đó mà doanh nghiệp mới thành công chứ. Các nhà đầu tư Mỹ không thể hiểu được sự rối rắm của mối quan hệ kinh doanh như thế?

 

Nếu mở cửa mời người ta vào nhà mà người ta nhìn thấy trong nhà ta lộn xộn quá thì họ cũng không vào. Bản thân Amrcham đang cùng Chính phủ Việt Nam xúc tiến đi đến ký hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương nhằm giúp Việt Nam mở rộng thương mại, đầu tư quốc gia. Tôi hi vọng, TPP sẽ là 1 bước thúc đẩy cộng đồng quốc tế nhìn vào Việt Nam và muốn đến Việt Nam đầu tư hơn.

 

- Thời gian vừa qua, một loạt dự án FDI và cả dự án trong nước bị rút giấy phép hoặc các doanh nghiệp cũng xin rút, nhóm nghiên cứu đánh giá thế nào về điều này?

 

Ông Edmund Malesky: Những tính toán ban đầu của doanh nghiệp khi đến Việt Nam nhiều khí rất lạc quan, nhưng thực tế lại khác. Diễn biến của kinh tế Việt Nam cũng phụ thuộc nhiều vào thế giới. Vì lẽ đó, việc các nhà đầu tư rút chân không hẳn là chính quyền tỉnh kém đâu. Chúng ta phải cẩn trọng trong các đánh giá về lý do rút chân này. Ngoài ra, cần có cách nhìn dài hạn hơn chứ đừng nhìn vào việc người ta giải ngân không kịp thời.

 

Ông Trần Hữu Huỳnh: Việc rút dự án của FDI có thể thấy do là do khủng hoảng nữa. Cũng có những nhà đầu tư thực sự chưa có tiềm lực, do chúng ta chưa chặt chẽ trong đánh giá, giám sát năng lực của họ. Hoặc lý do thứ 3, do môi trường kinh doanh không thuận lợi. Việc rút dự án chủ yếu là lĩnh vực bất động sản. Chủ đầu tư nhận thấy khả năng sinh lợi không rõ thì họ có quyền rút dự án.

 

 

- Vậy làm thế nào để hút được các nhà đầu tư FDI tốt hơn, tạo hiệu ứng lan tỏa sang nền kinh tế Việt Nam, như việc chuyển giao công nghệ cao?

 

Ông Edmund Malesky: Tôi cho rằng, các tỉnh hiện nay thu hút được đầu tư FDI lớn thì có thể hiểu, họ đã có thành công nhất định trong môi trường kinh doanh của mình. Nhưng tương lai, muốn thu hút đầu tư FDI vào lĩnh vực công nghệ cao nhiều hơn, thì chính sách sẽ phải đáp ứng những đòi hỏi phức tạp hơn của các nhà đầu tư. Các tỉnh không cần chỉ làm tốt nhiệm vụ hiện nay mà phải xem, các nhà đầu tư tương lai quan tâm yếu tố gì. Bởi chính nhà đầu tư FDI cũng sẽ biết vì sao họ chọn tỉnh này thay vì tỉnh khác, vì lý do gì? Họ có thể nhìn thấy hạn chế nhưng vẫn thấy cơ hội gặt hái lợi nhuận, tìm kiếm nguồn lao động từ địa phương này. Chúng ta sẽ phải tô chức tốt đáp ứng nhu cầu đó.

 

Ông Trần Hữu Huỳnh: Lời khuyên này là liên quan chính sách thu hút FDI nói chung, không chỉ riêng ở cấp tỉnh. Giờ, Việt Nam là nước thu nhập trung bình rồi. Nếu theo con đường cũ, chúng ta sẽ gặp bế tắc. Chúng ta phải ưu tiên lựa chọn, định vị Việt Nam nằm ở đâu trong chuỗi giá trị toàn cầu, chứ không phải là vấn đề cần tạo chi phí thấp, giá rẻ, ưu đãi thuế, đất đai nữa. Tôi cho rằng, các nhà hoạch định chính sách thu hút FDI nên sớm tư duy theo cách này.

 

Về mặt Nhà nước, chúng ta cần tham gia các hiệp định thương mại nhưng cần lựa chọn đối tác là các quốc gia có khả năng chuyển giao công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ cho Việt Nam. Được như vậy thì rất tốt. Lúc bấy giờ, địa phương phải qui hoạch ngay các doanh nghiệp nhỏ và vừa trở thành vệ tinh cho DN lớn, doanh nghiệp FDI tốt hơn.

 

Phạm Huyền (ghi)Diễn đàn Kinh Tế Việt Nam

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu