![]() |
Ảnh minh họa
|
Phó Thống đốc Nguyễn Văn Bình nêu rõ, hiện nay trong cả nước có hàng nghìn doanh nghiệp hoạt động kinh doanh vàng, riêng Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã có gần 4.000 doanh nghiệp. Bên cạnh các doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc, một số doanh nghiệp lợi dụng chức năng môi giới kinh doanh vàng trong giấy phép tổ chức các sàn giao dịch vàng mini làm chân rết cho các sàn vàng lớn trước khi Chính phủ có quyết định đóng cửa các sàn vàng, tổ chức các hoạt động huy động và cho vay nặng lãi bất chấp pháp luật để kinh doanh vàng, liên kết với nhau làm giá, đầu cơ trên thị trường, mua bán ngoại tệ trái phép, tung tin thất thiệt ảnh hưởng tâm lý của người dân về giá vàng và ngoại tệ để kiếm lời.
Theo Phó Thống đốc Nguyễn Văn Bình, tình hình trên có các cả nguyên nhân khách quan và chủ quan chính như sau:
Nguyên nhân khách quan: Trong thời gian qua, tình hình kinh tế vĩ mô của ta không vững chắc, lạm phát luôn ở mức cao, VND mất giá liên tục… điều này làm cho niềm tin của người dân vào giá trị VND bị giảm sút, tâm lý tiết kiệm và nắm giữ ngoại tệ, vàng gia tăng. Giá vàng quốc tế tăng mạnh và biến động thất thường vượt quá khả năng dự báo.
Nguyên nhân chủ quan: Công tác quản lý thị trường chúng ta làm chưa tốt. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng như Công an, quản lý thị trường, Thanh tra NHNN chưa chặt chẽ và thường xuyên; các chế tài xử lý còn bất cập, không còn phù hợp với tình hình mới, tính răn đe không cao; chưa có chế độ đãi ngộ và khen thưởng hợp lý để kịp thời động viên và tạo điều kiện làm việc cho các lực lượng quản lý thị trường.
Chức năng quản lý nhà nước về vàng còn bị phân tán, do đó tạo ra nhiều kẽ hở trong quản lý. Theo qui định tại Luật NHNN, Ngân hàng Nhà nước có chức năng quản lý hoạt động kinh doanh vàng, nhưng theo các qui định hiện hành, NHNN chỉ có chức năng quản lý về vàng đối với các loại hình hoạt động sau đây: Hoạt động xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng; hoạt động sản xuất vàng miếng; hoạt động huy động và cho vay bằng vàng của các tổ chức tín dụng; quản lý vàng trong dự trữ ngoại hối nhà nước.
Tất cả các hoạt động khác như mua bán, sản xuất, gia công vàng trang sức; xuất nhập khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ; hoạt động kinh doanh vàng miếng trên thị trường đều không do NHNN quản lý mà được cấp phép từ Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, thành phố; quản lý thị trường của Bộ Công Thương; xuất nhập khẩu qua hải quan của Bộ Tài chính; quản lý chất lượng của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Các qui định cụ thể để điều tiết mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, mua bán vàng, xuất nhập khẩu vàng của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan còn rất thiếu. Theo qui định tại Điều 8 Nghị định 174/1999/NĐ-CP (đã sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 64/2003/NĐ-CP) tổ chức, cá nhân muốn mua bán, kinh doanh vàng phải đáp ứng đủ điều kiện.
Tuy nhiên, trên thực tế không có các qui định cụ thể nào đối với hoạt động này. Theo qui định tại mục 2 phụ lục III Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của Chính phủ qui định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện, thì hoạt động sản xuất, kinh doanh, mua bán vàng là ngành nghề kinh doanh có điều kiện nhưng không cần cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh. Do vậy, tổ chức, cá nhân muốn tham gia chỉ cần đăng ký kinh doanh tại Sở Kế hoạch và Đầu tư trên địa bàn và hoạt động trên cơ sở Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vàng. Ngay cả hoạt động xuất nhập khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ cũng không có các qui định để điều phối, kiểm soát. Không có các qui định để phân biệt vàng trang sức, mỹ nghệ với các loại vàng khác.
Phó Thống đốc Nguyễn Văn Bình cho rằng, các qui định của pháp luật về hoạt động sản xuất, kinh doanh vàng miếng cũng còn nhiều bất cập. Hiện nay, có 8 doanh nghiệp kinh doanh vàng đã được NHNN cấp phép sản xuất vàng miếng. Riêng vàng miếng của Công ty Vàng bạc đá quí Sài Gòn SJC chiếm trên 80% thị phần vàng miếng cả nước và được một số thị trường vàng quốc tế có uy tín chấp nhận. Như vậy, vàng miếng SJC hầu như có đầy đủ các chức năng của một đồng tiền thứ hai trên lãnh thổ Việt Nam: Thước đo giá trị, phương tiện cất trữ, phương tiện thanh toán, tự do lưu thông, chuyển đổi, mua bán.
Đã là tiền tệ thì phải là hàng hóa đặc biệt do Ngân hàng Trung ương quản lý từ khâu phát hành đến lưu thông. Hơn nữa, nước ta không phải là một nước sản xuất vàng, số vàng có được đều có nguồn gốc nhập khẩu từ nước ngoài và có tính chuyển đổi ra ngoại tệ rất cao. Như vậy vàng miếng còn là ngoại tệ mà ta có cả chế độ quản lý ngoại hối, trong khi đó pháp luật hiện hành của ta coi vàng miếng là hàng hóa thông thường, lưu hành như mọi hàng hóa khác.
Phó Thống đốc Nguyễn Văn Bình nhấn mạnh, phân tích tình hình nêu trên, cũng như đánh giá các nguyên nhân khách quan và chủ quan, chúng ta thấy rằng để xóa bỏ thị trường tự do về ngoại tệ, lập lại kỷ cương quản lý ngoại hối, cũng như tạo dựng môi trường pháp lý phù hợp, lành mạnh cho hoạt động sản xuất, kinh doanh vàng nói chung, vàng miếng nói riêng theo hướng từng bước thu hẹp và tiến tới xóa bỏ kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do, chúng ta phải giải quyết được cả các nguyên nhân khách quan và chủ quan như đã trình bày ở trên.
Nội dung xuyên suốt của Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ và Kết luận 02-KL/TW của Bộ Chính trị là kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định giá trị đồng Việt Nam, hay nói một cách khác, việc tổ chức triển khai để thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách, giải pháp nêu trên của Đảng và Chính phủ sẽ giải quyết tận gốc rễ các nguyên nhân khách quan của vấn đề.
Phó Thống đốc Nguyễn Văn Bình nêu rõ, Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ và Kết luận số 02-KL/TW của Bộ Chính trị cũng vạch rõ phương hướng và nhiệm vụ nhằm giải quyết các nguyên nhân chủ quan nêu trên. Cụ thể, Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ nêu rõ: “…Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:
…(d) Kiểm soát chặc chẽ hoạt động kinh doanh vàng, trong quý II năm 2011 trình Chính phủ ban hành Nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo hướng tập trung đầu mối nhập khẩu vàng, tiến tới xóa bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do; ngăn chặn hiệu quả các hoạt động buôn lậu vàng qua biên giới.
(đ)Phối hợp chặc chẽ với Bộ Công an, Bộ Công Thương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các qui định về thu đổi ngoại tệ, kinh doanh vàng. Ban hành qui định về chế tài xử lý vi phạm, kể cả đình chỉ, rút giấy phép hoạt động, thu tài sản, qui định khen thưởng đối với việc phát hiện các hành vi vi phạm hoạt động thu đổi, mua bán ngoại tệ, vàng. Xử lý nghiêm theo pháp luật đối với hành vi cố tình vi phạm”.
Kết luận 02-KL/TW của Bộ Chính trị chỉ rõ: “… nhanh chóng xây dựng các cơ chế, chính sách tăng cường quản lý thị trường ngoại tệ (đô la) và vàng, khắc phục tình trạng đầu cơ tích trữ, buôn bán trái phép. Có lộ trình và biện pháp phù hợp trong từng thời kỳ, đảm bảo lợi ích hợp pháp của người dân có tài sản này, quan tâm đúng mức nhu cầu chính đáng của doanh nghiệp và nhân dân, tránh tạo ra các “cú sốc” về tâm lý, gây bất ổn xã hội, khuyến khích, không gây trở ngại cho việc thu hút các nguồn ngoại tệ từ nước ngoài về nước, tổ chức lại thị trường kinh doanh vàng”.
Mỹ Loan (Tamnhin.net)
