LTS: Lãi suất huy động của ngân hàng thương mại có nên và cần phải "thực dương" (cao hơn tỷ lệ tăng CPI) hay không, trong mục tiêu chung là kìm chế lạm phát cao, đang còn những tranh luận khác nhau.
Bee.net ghi lại một số ý kiến chuyên gia về vấn đề này.
Khác với quan điểm của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về lãi suất “chưa thể thực dương trong bối cảnh kinh tế khó khăn”, một số chuyên gia kinh tế-tài chính lại cho rằng: Việc khống chế trần lãi suất và các biện pháp điều chỉnh trần lãi suất không theo cơ chế thị trường khiến NHNN đến thời điểm hiện tại vẫn rất lúng túng trong việc điều chỉnh lãi suất nên như thế nào
TS. Phạm Thế Anh cho rằng: Ấn định trần lãi suất huy động, trong khi thả nổi lãi suất cho vay, không giúp nhiều cho việc hạn chế rủi ro hệ thống. Công cụ trần lãi suất huy động 14%/năm hay 1,16%/tháng hiện nay không giúp tạo ra được mức lãi suất thực dương, và do đó, không làm tăng được các khoản tiền gửi dài hạn để chống lạm phát. Do vậy, nền kinh tế sẽ mắc kẹt ở mức lạm phát cao và lãi suất cao trong thời gian dài.
![]() |
Minh họa (nguồn Vietstock)
|
Chính sách tiền tệ không thể bắt người dân, những người có thu nhập danh nghĩa cố định, phải “chia sẻ” với doanh nghiệp khi thu nhập thực của họ đang giảm dần theo lạm phát, và khi các NHTM vẫn báo cáo lãi hàng ngàn tỉ đồng nhờ khoảng cách lãi suất ngày được tăng lên. Việc chia sẻ nên đặt theo chiều ngược lại.
T.S Anh nhận định: “lạm phát hiện nay đã ở mức trầm trọng, xấp xỉ 2%/tháng trong nhiều tháng liên tiếp, và khác xa so với những dự báo đầu năm của Chính phủ. Do vậy, các mục tiêu về tăng trưởng cung tiền và tín dụng cũng cần phải được điều chỉnh”.
T.S Phạm Thế Anh đưa dẫn chứng: Thật đáng ngạc nhiên là trong vòng xoáy lạm phát, cung tiền và tín dụng của quí I năm nay vẫn lần lượt được thả ở mức trên 2% và xấp xỉ 4%.
Lượng tiền cơ sở trong nền kinh tế hiện nay được NHNN điều tiết chủ yếu qua hai kênh: thị trường mở và cửa sổ tái cấp vốn/tái chiết khấu. Ngoài số liệu hoạt động thị trường mở được công khai hàng ngày, chúng ta không có thông tin gì về nghiệp vụ tái cấp vốn/tái chiết khấu.
Về bản chất, việc cho vay của NHNN đối với các NHTM qua cửa sổ tái cấp vốn là một hình thức đòn bẩy tín dụng và, trừ lý do khẩn cấp về thanh khoản, nó cần được tuyệt đối hạn chế trong thời kỳ chống lạm phát cao.
Lý giải duy nhất cho mức tăng trưởng cung tiền/tín dụng dương đó là cụm từ “chính sách tiền tệ linh hoạt” để đảm bảo thanh khoản cho các ngân hàng. Tuy nhiên, các tiêu chí về việc ngân hàng nào, trong điều kiện nào… thì được tái cấp vốn từ NHNN lại không được công khai.
Đặc biệt, việc để mức lãi suất tái cấp vốn ở mức thấp, 11%, 12% rồi 13% trong hai tháng vừa qua, trong khi lãi suất cho vay của các NHTM lên tới xấp xỉ 20% sẽ không ngăn chặn được vấn đề rủi ro đạo đức (moral hazard). Tức là, các NHTM sẽ kém thận trọng hơn với các quyết định kinh doanh có khả năng gây thiếu hụt thanh khoản, khi họ biết rằng NHNN cho phép, mặc dù là có sàng lọc, thực hiện nghiệp vụ tái cấp vốn với giá rẻ.
Giả sử lãi suất cho vay là 20%, thì cứ mỗi một hợp đồng tín dụng được chấp nhận qua cửa sổ tái cấp vốn, NHTM sẽ có thêm khoảng 7 điểm phần trăm tiền lãi.
“Trong thời kỳ chống lạm phát, thanh khoản của hệ thống ngân hàng phải được cải thiện nhờ thu hút tiền gửi từ công chúng chứ không thể nhờ kênh bơm tiền từ NHNN. Và điều đó chỉ có thể làm được với mức lãi suất thực dương.”,T.S Anh kết luận.
Theo TS. Cấn Văn Lực - Cố vấn cao cấp Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, trong thời điểm nước sôi lửa bỏng, thị trường có quá nhiều biến động mà NHNN thì bắt buộc phải sử dụng biện pháp hành chính. Tuy nhiên, không nên lặp lại quá nhiều và tần suất quá gần nhau.
Bên cạnh đó, sự không nhất quán trong điều hành chính sách tiền tệ sẽ đưa đến 3 điểm: thứ nhất, tạo nên khó khăn trong dự báo, dự trù kinh phí kinh doanh của DN; thứ hai, niềm tin đối với chính sách tiền tệ sẽ mất dần; thứ ba, sự phối kết hợp giữa các ban ngành với nhau sẽ khó khăn hơn.
TS. Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia cũng cho rằng, lạm dụng các biện pháp hành chính sẽ làm thị trường trở nên méo mó, gây trở ngại cho công việc giám sát cũng như tạo ra nhiều rủi ro đạo đức trong khu vực ngân hàng.
"Thực tế cho thấy, tự do hoá lãi suất đã được thực thi một thời gian dài. Khi đó, các NHTM có cơ hội cạnh tranh nhau để giảm lãi suất cho vay và kéo lãi suất huy động giảm xuống. Tự do hoá lãi suất là vấn đề cốt lõi của toàn bộ chính sách tiền tệ. Nó không chỉ ảnh hưởng đến nền tảng tài chính của các NHTM mà ảnh hưởng đến ngay chính sách tiền tệ của NHNN", ông Nghĩa nói.
Đồng quan điểm trên, TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính - ngân hàng nhận xét, các biện pháp hành chính, phi thị trường khó đem lại kết quả như mong đợi, bởi các biện pháp lách luật ngày càng tinh vi hơn. Đồng thời, vừa qua kết quả chưa như mong đợi có thể do chính sách tiền tệ chưa được phối hợp với các chính sách vĩ mô khác như chính sách tài khoá, vấn đề nợ công, chi phí công…
"NHNN nên có sự nhất quán trong việc điều hành và thả nổi lãi suất theo cơ chế thị trường. Đặc biệt, nếu quý II/2011, dòng vốn không được lưu thông, tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế thì nên cân nhắc thả nổi lãi suất trong quý III/2011", ông Hiếu nhấn mạnh.
Thuận Hải (theo ĐTCK, TBKTSG)
