
Buồn, nhất là đối với người tiêu dùng, vì có lẽ hầu hết không ai nghĩ điều này lại xảy ra, nhất là đối tượng ban hành lại là Bộ Công Thương chứ không phải là Bộ Tài chính. (Thường là đối lập nhau rất nhiều về quan điểm trong việc đưa ra cách chính sách cho lĩnh vực này).
Hết đối trọng
Bất ngờ là điều mà ai (trừ những người soạn thảo và ký) đều cảm nhận khi đọc thông tư này. Tại sao ? Nhiều, nhưng điều mà ai cũng dễ nhận thấy, như dư luận đã đưa ra trong thời gian vừa qua là thông tư này chỉ có lợi cho các thành viên thuộc Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô VN (Vama) mà thôi và bóp nghẹt các nhà nhập khẩu và kinh doanh ôtô khác, hạn chế việc lựa chọn đối với người tiêu dùng.
Đến thời điểm hiện nay, có thể khẳng định là bao nhiêu năm qua chúng ta đã đưa ra rất nhiều chính sách để ủng hộ các liên doanh nhằm thúc đẩy họ cố gắng nâng cao tỉ lệ nội địa hoá, ngõ hầu nâng cao, phát triển ngành công nghiệp ôtô VN. Nhưng, đến thời điểm hiện nay, chúng ta cũng thừa nhận là mục tiêu đó gần như thất bại, ngành công nghiệp ôtô VN vẫn chỉ là lắp ráp. Nếu bàn, nói về trách nhiệm của sự chậm, sự không phát triển của lĩnh vực này thì Bộ Công nghiệp cũ và Bộ Công Thương hiện nay phải là đơn vị chịu trách nhiệm đầu tiên. Trong trường hợp này, tôi không muốn nói kỹ về vấn đề này, mà chỉ muốn nói đến một vấn đề thực tế hơn là với những quy định này, bản thân ngành công nghiệp ôtô sẽ đánh mất nhiều lợi thế.
Trước hết, khi Bộ Công Thương trước đây đã ủng hộ việc nhập khẩu xe cũ và xe mới. Điều này là hợp lý vì: Nếu nhìn vào lượng bán hàng của Vama và tổng số lượng bán hàng của thị trường ôtô trong những năm vừa qua thì có thể thấy được vai trò của xe nhập khẩu, thực sự trở thành một đối trọng đối với các loại xe được lắp ráp trong nước. Sự tồn tại của cái được xem là đối trọng đó đã mang lại nhiều lợi ích cho thị trường, người tiêu dùng và ngành công nghiệp mà rõ nhất là bản thân các liên doanh không còn tính độc quyền và vì vậy họ, dù không gia tăng được tỉ lệ sản xuất trong nước (do xe lắp ráp trong nước vẫn được hưởng lợi mức thuế) nhưng đã có những thay đổi tích cực đối với việc cho ra đời hàng loạt mẫu mã xe mới cũng như thay đổi hoàn toàn quan điểm về các dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng... Và với những quy định trong Thông tư 20 thì điều này gần như không tồn tại, các doanh nghiệp lắp ráp trong nước lại có cơ hội “muốn làm gì thì làm”, ai cũng chịu thiệt. Đó là chưa tính đến hàng loạt yếu tó khác như việc thay đổi chính sách đột ngột, thường xuyên...
Có đạt dược mục tiêu ?
Mục tiêu của Thông tư 20 là nhằm góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hạn chế nhập siêu và đảm bảo an toàn giao thông đường bộ. Những mục tiêu này thực sự cần thiết, nhưng như một chuyên gia lão làng trong lĩnh vực này thì từ khi có xe nhập khẩu đến nay, gần như không ai phàn nàn về chất lượng các loại xe này (trong khi xe lắp ráp trong nước thì rất nhiều). Trên thực tê điều này hoàn toàn đúng. Và nếu như vậy thì việc đảm bảo an toàn giao thông đường bộ hiểu một cách cụ thể là như thế nào ? Chịu !
Bàn về vấn đề hạn chế nhập siêu thì cũng nhiều điều cần nói. Nếu nói xe nhập khẩu nguyên chiếc làm tăng nhập siêu thì không sai. Vậy nhưng, nếu so sánh giữa việc nhập khẩu xe nguyên chiếc và nhập khẩu bộ linh kiện phụ tùng thì tổng giá trị nhập khẩu bộ linh kiên, linh kiện của các DN lắp ráp trong nước cao hơn nhiều. Vậy câu hỏi đặt ra là tại sao không đưa ra các biện pháp hạn chế cả việc nhập khẩu xe nguyên chiếc lẫn nhập khẩu bộ linh kiện phụ tùng ? Có như vậy mới thực sự công bằng và đúng mục đích. Ngay bản thân đại diện một DN liên doanh cũng khẳng định, nhu cầu mua sắm ôtô của VN vẫn liên tục tăng. Vậy thì việc hạn chế nhập khẩu ở chỗ này và phình ra ở chỗ khác thì bản chất không thay đổi. vấn đề chỉ là có lợi cho ai ? Điều này thì ai cũng biết, nhưng chắc chắn là sẽ không có lợi cho người tiêu dùng lẫn ngành công nghiệp ôtô.
Linh Anh (DĐDN)