![]() |
Theo TKV, dự kiến số lượng than nhập khẩu từ nay đến năm 2012 khoảng 10 triệu tấn/năm và sẽ tăng dần từng năm. Đến năm 2020, dự kiến Tập đoàn sẽ nhập về khoảng 100 triệu tấn/năm, trong đó phần lớn là than bituminous có nhiệt năng từ 5.000 - 6.000 kcal/kg (cơ sở không khí khô) để cấp cho các nhà máy nhiệt điện.
Ngoài ra, các chủng loại than mà các ngành công nghiệp ở Việt Nam đang có nhu cầu, nhất là ngành thép và xi măng cũng sẽ được nhập về để phục vụ nhu cầu trong nước.
Theo TKV, trong tháng 5, sản lượng than khai thác ước đạt 3,98 triệu tấn, tăng 7,5% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng ước đạt 19,2 triệu tấn, tăng 5,5% so với cùng kỳ. Trong tháng 5-2011, Việt Nam xuất khẩu 2 triệu tấn than đá, thu về 192 triệu USD. Tính chung 5 tháng đầu năm đã xuất khẩu 6,64 triệu tấn than đá, trị giá 638 triệu USD. So với cùng kỳ năm ngoái, lượng xuất khẩu giảm khoảng 25%.
Hiện than do TKV khai thác ở Quảng Ninh chủ yếu là than có chất lượng tốt, được dùng nhiều trong ngành công nghiệp luyện kim và hóa chất và có giá trị xuất khẩu cao. Do đó, Chính phủ đã cho phép TKV thí điểm thực hiện việc nhập khẩu than có giá thành rẻ hơn để phục vụ các nhà máy nhiệt điện trong nước.
Như vậy từ địa vị một nước xuất khẩu, Việt Nam chính thức trở thành nước nhập khẩu than.
Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc Cty Năng lượng Sông Hồng - TKV, cho rằng, đây chính là hệ quả của việc xuất khẩu than (được coi như một thành tích trong thời gian qua) chỉ mang lại lợi ích tài chính cục bộ trước mắt cho ngành than, nhưng đã và đang dẫn đến sự thiệt hại lâu dài cho cả đất nước.
Ngoài việc thất thoát tài nguyên, nền kinh tế còn chịu thiệt hại không chỉ bằng tiền, mà cả bằng thời gian. Nếu trong vòng 13 năm qua, thay vì tích cực xuất khẩu than, TKV đẩy mạnh đầu tư theo chiều sâu, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và chỉ tập chung tiềm lực đầu tư cho ngành than (thay vì đầu tư vào các lĩnh vực đa ngành khác đang tỏ ra không có hiệu quả), thì nguy cơ phải nhập khẩu than của Việt Nam có thể được đẩy lùi hàng chục năm.
Ngành than đang có nguy cơ không thực hiện được nhiệm vụ chính trị quan trọng đã được Chính phủ giao là đảm bảo các cân đối lớn về than cho nền kinh tế. Tình trạng sớm mất cân đối về than của nền kinh tế có thể nói trước hết là do ngành than đã không tự giác thực hiện nghiêm chỉnh nội dung Quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2003 (với qui mô khai thác đủ đáp ứng các nhu cầu trong nước và hạn chế xuất khẩu than ở mức tối thiểu nhất).
Nhu cầu than trong nước thực tế đã và đang diễn ra đúng như dự kiến trong Quy hoạch đã được Thủ tướng phê duyệt năm 2003. Nhưng sản lượng khai thác than của TKV từ lâu đã vượt xa mức quy hoạch.
Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn phân tích, thay vì phải đầu tư chiều sâu (nâng cao hiệu quả, giảm giá thành, tăng năng suất lao động trong khâu khai thác than), ngành than lại tích cực đầu tư theo chiều rộng, tăng khối lượng, dẫn đến tình trạng thừa than, tạo ra một yêu cầu giả tạo là phải “đẩy mạnh xuất khẩu than”. Về mặt khách quan, do giá cung cấp than cho các hộ tiêu dùng nội địa được nhà nước điều tiết và bình ổn ở mức thấp, việc xuất khẩu than (kể cả chính ngạch và tiểu ngạch) đều tạo ra nguồn lợi rất lớn, có sức hấp dẫn đặc biệt (đặc biệt là trong các khâu khai thác than trái phép và buôn lậu than). Nguồn lợi của việc xuất khẩu than quá lớn dẫn đến việc tổ chức và quản lý của ngành bị méo mó, thậm chí trái với quy luật thị trường. Trước đây, trong Bộ Năng lượng chỉ duy nhất một đơn vị làm đầu mối xuất khẩu than là Coalimex. Ngay sau khi thành lập Tổng Cty Than, đầu mối xuất khẩu than đã bị phân tán theo kiểu chia phần. Số đơn vị được trực tiếp xuất khẩu than đã tăng lên không thể đếm bằng đầu ngón tay. Nhiều đơn vị thành viên không có than cũng được cấp hạn ngạch xuất khẩu.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, phong trào đẩy mạnh xuất khẩu than như vậy đã dẫn tới tình trạng bị lợi dụng: có hợp đồng xuất khẩu than được ký với giá thấp hơn cả giá thành khai thác, tiền thưởng rót than nhanh thì chia cho một nhóm nhỏ các cá nhân, còn tiền phạt rót than chậm thì đưa vào lỗ chung của toàn ngành, v.v. Giá bán than xuất khẩu do doanh nghiệp tự quyết định không có sự quản lý chặt chẽ. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới WB (tại cuộc hội thảo tại Hà Nội về Phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam), giá than xuất khẩu của Việt Nam nếu quy đổi ra cùng một đơn vị nhiệt năng, vào cùng một thị trường chỉ bằng 2/3 so với giá của Australia. Nếu “lấy hiệu quả kinh tế-xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để quyết định đầu tư” như Nghị quyết về phát triển ngành công nghiệp khai khoáng của Bộ Chính trị đã nêu, có thể nói các quyết định đầu tư của TKV có liên quan đến tăng sản lượng khai thác than và tăng khối lượng than xuất khẩu trong thời gian hơn chục năm qua là không có căn cứ.
Ngoài ra, các chủng loại than mà các ngành công nghiệp ở Việt Nam đang có nhu cầu, nhất là ngành thép và xi măng cũng sẽ được nhập về để phục vụ nhu cầu trong nước.
Theo TKV, trong tháng 5, sản lượng than khai thác ước đạt 3,98 triệu tấn, tăng 7,5% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng ước đạt 19,2 triệu tấn, tăng 5,5% so với cùng kỳ. Trong tháng 5-2011, Việt Nam xuất khẩu 2 triệu tấn than đá, thu về 192 triệu USD. Tính chung 5 tháng đầu năm đã xuất khẩu 6,64 triệu tấn than đá, trị giá 638 triệu USD. So với cùng kỳ năm ngoái, lượng xuất khẩu giảm khoảng 25%.
Hiện than do TKV khai thác ở Quảng Ninh chủ yếu là than có chất lượng tốt, được dùng nhiều trong ngành công nghiệp luyện kim và hóa chất và có giá trị xuất khẩu cao. Do đó, Chính phủ đã cho phép TKV thí điểm thực hiện việc nhập khẩu than có giá thành rẻ hơn để phục vụ các nhà máy nhiệt điện trong nước.
Như vậy từ địa vị một nước xuất khẩu, Việt Nam chính thức trở thành nước nhập khẩu than.
Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc Cty Năng lượng Sông Hồng - TKV, cho rằng, đây chính là hệ quả của việc xuất khẩu than (được coi như một thành tích trong thời gian qua) chỉ mang lại lợi ích tài chính cục bộ trước mắt cho ngành than, nhưng đã và đang dẫn đến sự thiệt hại lâu dài cho cả đất nước.
Ngoài việc thất thoát tài nguyên, nền kinh tế còn chịu thiệt hại không chỉ bằng tiền, mà cả bằng thời gian. Nếu trong vòng 13 năm qua, thay vì tích cực xuất khẩu than, TKV đẩy mạnh đầu tư theo chiều sâu, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và chỉ tập chung tiềm lực đầu tư cho ngành than (thay vì đầu tư vào các lĩnh vực đa ngành khác đang tỏ ra không có hiệu quả), thì nguy cơ phải nhập khẩu than của Việt Nam có thể được đẩy lùi hàng chục năm.
Ngành than đang có nguy cơ không thực hiện được nhiệm vụ chính trị quan trọng đã được Chính phủ giao là đảm bảo các cân đối lớn về than cho nền kinh tế. Tình trạng sớm mất cân đối về than của nền kinh tế có thể nói trước hết là do ngành than đã không tự giác thực hiện nghiêm chỉnh nội dung Quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2003 (với qui mô khai thác đủ đáp ứng các nhu cầu trong nước và hạn chế xuất khẩu than ở mức tối thiểu nhất).
Nhu cầu than trong nước thực tế đã và đang diễn ra đúng như dự kiến trong Quy hoạch đã được Thủ tướng phê duyệt năm 2003. Nhưng sản lượng khai thác than của TKV từ lâu đã vượt xa mức quy hoạch.
Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn phân tích, thay vì phải đầu tư chiều sâu (nâng cao hiệu quả, giảm giá thành, tăng năng suất lao động trong khâu khai thác than), ngành than lại tích cực đầu tư theo chiều rộng, tăng khối lượng, dẫn đến tình trạng thừa than, tạo ra một yêu cầu giả tạo là phải “đẩy mạnh xuất khẩu than”. Về mặt khách quan, do giá cung cấp than cho các hộ tiêu dùng nội địa được nhà nước điều tiết và bình ổn ở mức thấp, việc xuất khẩu than (kể cả chính ngạch và tiểu ngạch) đều tạo ra nguồn lợi rất lớn, có sức hấp dẫn đặc biệt (đặc biệt là trong các khâu khai thác than trái phép và buôn lậu than). Nguồn lợi của việc xuất khẩu than quá lớn dẫn đến việc tổ chức và quản lý của ngành bị méo mó, thậm chí trái với quy luật thị trường. Trước đây, trong Bộ Năng lượng chỉ duy nhất một đơn vị làm đầu mối xuất khẩu than là Coalimex. Ngay sau khi thành lập Tổng Cty Than, đầu mối xuất khẩu than đã bị phân tán theo kiểu chia phần. Số đơn vị được trực tiếp xuất khẩu than đã tăng lên không thể đếm bằng đầu ngón tay. Nhiều đơn vị thành viên không có than cũng được cấp hạn ngạch xuất khẩu.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, phong trào đẩy mạnh xuất khẩu than như vậy đã dẫn tới tình trạng bị lợi dụng: có hợp đồng xuất khẩu than được ký với giá thấp hơn cả giá thành khai thác, tiền thưởng rót than nhanh thì chia cho một nhóm nhỏ các cá nhân, còn tiền phạt rót than chậm thì đưa vào lỗ chung của toàn ngành, v.v. Giá bán than xuất khẩu do doanh nghiệp tự quyết định không có sự quản lý chặt chẽ. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới WB (tại cuộc hội thảo tại Hà Nội về Phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam), giá than xuất khẩu của Việt Nam nếu quy đổi ra cùng một đơn vị nhiệt năng, vào cùng một thị trường chỉ bằng 2/3 so với giá của Australia. Nếu “lấy hiệu quả kinh tế-xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để quyết định đầu tư” như Nghị quyết về phát triển ngành công nghiệp khai khoáng của Bộ Chính trị đã nêu, có thể nói các quyết định đầu tư của TKV có liên quan đến tăng sản lượng khai thác than và tăng khối lượng than xuất khẩu trong thời gian hơn chục năm qua là không có căn cứ.
Sơn Hà (Tamnhin)
