Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Ba bài học cảnh báo từ " Sự kiện Vinashin " (tiếp)

21/07/2011 13 phút đọc TS.Nguyễn Minh Phong
Hiệu quả kinh doanh và đầu tư của các tập đoàn kinh tế và công ty Nhà nước nói chung, cả ở trên thế giới, cũng như
Ba bài học cảnh báo từ " Sự kiện Vinashin " (tiếp)
Hiệu quả kinh doanh và đầu tư của các tập đoàn kinh tế và công ty Nhà nước nói chung, cả ở trên thế giới, cũng như ở Việt Nam, đều không cao, và thường là thấp nhất so với các đầu tư và kinh doanh tương tự, nhưng do các nhà đầu tư nước ngoài hoặc tư nhân trong nước thực hiện (nếu có hoặc được phép).

 

 
2. Minh bạch đại diện sở hữu và tăng cường hiệu lực giám sát, thanh tra tài chính tại các tập đoàn và công ty nhà nước.

Hiệu quả kinh doanh và đầu tư của các tập đoàn kinh tế và công ty Nhà nước nói chung, cả ở trên thế giới, cũng như ở Việt Nam, đều không cao, và thường là thấp nhất so với các đầu tư và kinh doanh tương tự, nhưng do các nhà đầu tư nước ngoài hoặc tư nhân trong nước thực hiện (nếu có hoặc được phép). Điều này liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến: đặc điểm của sở hữu(sở hữu nhà nước thường dẫn đến cảnh “cha chung không ai khóc” và “lắm sãi không ai đóng cửa chùa”; cơ chế cán bộ và tuyển dụng lao động (thường không thực sự coi trọng chuyên môn và người tài), trách nhiệm cá nhân của nhà quản lý đầu tư (thường thấp vì đề cao và lạm dụng cơ chế lãnh đạo và trách nhiệm tập thể) và cơ chế quản lý vốn đầu tư- bao gồm cả việc lựa chọn lĩnh vực kinh doanh( thường bị áp đặt hoặc dễ dãi, gắn với lợi ích cục bô, thâm chí do lợi ích cá nhân và phe nhóm, lợi dụng vốn nhà nước để “đánh quả” và trục lợi), cũng như cơ chế ra quyết định đầu tư (vừa phức tạp, chậm trễ, vừa lỏng lẻo, hình thức và nhiều cơ hội cho tham nhũng phát sinh, phát triển).

Thông tin chính thức cho thấy, tỷ lệ ICOR của khu vực đầu tư nhà nước ở nước ta hiện ở mức hơn 8, so với mức trung bình xã hội 4,2-4,4; Còn theo Phó tổng kiểm toán nhà nước Lê Minh Khải trong cuộc họp báo 1/7/2008 thì kết quả kiểm toán 225/385 doanh nghiệp thành viên thuộc 19 Tổng cty Nhà nước năm tài chính 2006 thì đến 31/12/2006 tổng số nợ phải thu là 25.102 tỷ đồng(bằng 64% vốn chủ sở hữu), nhưng tổng số nợ phải trả cao hơn 2,7 lần tổng nợ phái thu và lên tới 65.799 tỷ đồng (bằng 171,2% tổng vốn chủ sở hữu), so với tổng lợi nhuận trước thuế của các Tổng cty được kiểm toán chỉ vỏn vẹn có 7650 tỷ đồng. Đặc biệt, các tập đoàn và công ty nhà nước đã và đang chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng dư nợ tín dụng và đầu tư xã hội,năm 2008 tới hơn 50% tổng vốn đầu tư nhà nước, 70% tổng dư nợ quốc gia và hơn 80% tổng dư nợ tín dụng thương mại. Sẽ là thảm hoạ quốc gia nếu hình thành và phát triển không kiểm soát được “sự liên minh ma quỷ” giữa các tập đoàn, tổng công ty nhà n­ước với các ngân hàng th­ương mại nhà n­ước với các quan chức có liên quan trong việc vay và cho vay vốn NSNN và tín dụng nhà nước, đầu tư­ chéo, đầu t­ư đa ngành hàng ngàn tỷ đồng mang nặng tính đầu cơ, trục lợi cá nhân hoặc phe nhóm, lũng đoạn thị tr­ường và lãng phí các nguồn lực quốc gia.

Luật doanh nghiệp nhà nước, Nghị định về các tập đoàn kinh tế nhà nước đã quy định việc để cho doanh nghiệp lỗ liền hai năm thì trách nhiệm trước hết thuộc về chủ tịch HĐQT và tổng giám đốc. Để cho Vinashin lâm vào tình trạng khốn khó như ngày hôm nay chứng tỏ công tác giám sát chưa có hiệu quả. Nói cách khác, có lẽ, Vinasin và xã hội sẽ bớt đau và không bị trả giá đắt như hiện nay khi mọi cơ chế trở nên minh bạch sớm hơn và nếu cơ chế thanh tra, giám sát các cấp của ta có hiệu lực cao hơn và được tiến hành thường xuyên hơn, công tác phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra Trung ương với các cơ quan thanh tra, điều tra, kiểm toán được làm tốt hơn. ví như : “Cơ quan pháp luật mà phát hiện sai phạm của cán bộ thuộc diện trung ương quản lý thì chuyển hồ sơ cho Ủy ban Kiểm tra. Ngược lại, qua công tác kiểm tra mà phát hiện những việc liên quan đến chức trách nhà nước thì Ủy ban Kiểm tra cũng phải phối hợp với các cơ quan chức năng” như khẳng định của Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Phạm Thị Hải Chuyền trong cuộc họp sơ kết công tác phòng, chống tham nhũng hôm 8/7/2010. Nghị định 09/2009/NĐ-CP về quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác có quy định rất rõ: “Công ty nhà nước được quyền chủ động huy động vốn phục vụ sản xuất kinh doanh trong phạm vi hệ số nợ phải trả trên vốn điều lệ của công ty không vượt quá ba lần.

Cơ quan đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính giám sát chặt chẽ việc huy động và sử dụng vốn tại công ty nhà nước. Trường hợp sử dụng nguồn vốn ngân sách để cấp vốn điều lệ, Bộ Tài chính tổng hợp trình Chính phủ, Quốc hội quyết định”. Nghị định 25/2010 về việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty TNHH một thành viên cũng quy định mỗi công ty chuyển đổi chỉ do một tổ chức làm chủ sở hữu (hoặc là Thủ tướng Chính phủ, bộ, UBND tỉnh thành...). Nhưng với Vinashin, dường như cả Chính phủ, một số bộ, ngành và ngay chính hội đồng quản trị Vinashin cũng được giao thực hiện một số quyền của chủ sở hữu. Sự thiếu tách bạch và minh bạch này tạo cơ chế lỏng lẻo, thiếu hiệu lực trong giám sát và xử lý hoạt động của Vinashin, bất chấp những cảnh báo xấu đã có từ nhiều năm về thực tế hoạt động của tổ chức này. Thậm chí, mới để xẩy ra tình trạng “sự đã rồi” như thừa nhận của ông Phạm Viết Muôn, Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ:“Vinashin phát triển thế nào, mua sắm những gì cả Bộ GTVT và Chính phủ đều không biết. Chỉ khi xong rồi mới báo cáo”. Còn nói như ông Trần Quang Vũ, tổng giám đốc điều hành của Vinashin, thì: “Tôi không hiểu sau tái cơ cấu, nếu không công khai, minh bạch mọi hoạt động thì tập đoàn sẽ đi đến đâu” .

Thực tế cho thấy cũng cần xem lại cơ chế hỗ trợ và sự bảo hộ của nhà nước đối với ngành trọng điểm, dù đó là ngành quan trọng như đóng tàu. Sự hỗ trợ này là cần thiết trong giai đoạn đầu, nhưng nếu kéo dài quá và không có cơ chế quy trách nhiệm quản lý cụ thể thì rất dễ bị làm dụng và hiệu quả ngược với mong đợi. Vinasin từng nhận được nhiều sự ưu ái quá mức đến bất công và khó hiểu không chỉ thể hiện ở việc tạo mọi thuận lợi cho việc cấp đất dự án (được Vinasin mặc hiên coi đó là một phần vốn riêng tự có của mình) và cho vay vốn đầu tư dự án, mà còn thể hiện ở việc định nợ, khoanh nợ, gia hạn và chuyển nợ của doanh nghiệp, mà hầu hết đều có nguồn gốc vốn NSNN, tín dụng nhà nước hoặc vốn vay nhà nước (chẳng hạn, Chính phủ đã dành 750 triệu USD vốn phát hành trái phiếu quốc tế cho Vinashin, 650 triệu USD cũng được Vinashin vay của ngân hàng Thụy Sĩ chi nhánh Hong Kong Credit Suisse. 

Chính phủ yêu cầu Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước “ôm” khoản đầu tư vào Bảo Việt của Vinashin chịu 700 tỉ đồng lỗ. Chính phủ yêu cầu các ngân hàng khoanh nợ và tiếp tục cho Vinashin vay nợ bất chấp những quy định về tín dụng của Ngân hàng Nhà nước. Từ tháng 10-2009, Thủ tướng đã có Quyết định 1596/QĐ-TTg về các giải pháp thực hiện tái cơ cấu tài chính đối với Vinashin, Ngân hàng Nhà nước đã có Văn bản số 357/NHNN-TD ngày 17-7-2009 về khoanh và cơ cấu lại các khoản nợ cũ của Vinashin). Ngoài ra, về nguyên tắc, việc nâng vốn điều lệ của Vinashin từ 9.000 tỉ đồng thành 14.655 tỉ đồng theo quyết định chuyển tập đoàn này thành công ty TNHH một thành viên mới công bố trong tháng 6/2010 cũng có thể coi là một ưu ái ngoại lệ vì không cần ý kiến của Quốc hội theo tinh thần Nghị định 09/2009/NĐ-CP nêu trên. 

NSNN và các DNNN là thuộc sở hữu toàn dân. Nhà nước cần tạo điều kiện và buộc công khai, minh bạch hóa, tăng cường giám sát và phản biện xã hội trong hoạt động của chúng. 

3. Tăng cường công tác thi đua khen thưởng thực chất, trách nhiệm cá nhân cụ thể và nghiêm khắc.

Công tác thi đua khen thưởng, một mặt, đã, đang và sẽ giúp động viên tinh thần yêu nước và khẳng định những cái tinh thần tốt đẹp cần khích lệ trong xã hội; mặt khác, nếu làm hình thức và bị làm dụng lại dễ góp phần tung hoả mù và làm nhiễu các giá trị trong đời sống cộng đồng, gây ảnh hưởng xấu đến thực tiễn. Điều trứ danh là trước khi “sập tiệm”, Vinasin vẫn đàng hoàng xếp hạng cao trong đợt thi đua khen thưởng của khối các tập đoàn và công ty nhà nước năm 2009. Theo trang WEB của Vinasin, ngày 30/3/2010 tại Hà Nội, Khối các Tập đoàn và TCty nhà nước đã tổ chức hội nghị tổng kết công tác thi đua khen thưởng năm 2009 và triển khai kế hoạch năm 2010. Với vai trò là Khối trưởng năm 2009, đại diện lãnh đạo Tập đoàn Vinashin đã thông qua báo cáo kết quả công tác thi đua khen thưởng năm 2009 và kế hoạch công tác năm 2010 của khối thi đua các Tập đoàn và TCty nhà nước. Hội nghị cũng đã ký giao ước thi đua năm 2010 và bình chọn 6 đơn vị Thi đua xuất sắc năm 2009: Tập đoàn Bưu chính Viễn Thông Việt Nam cờ dẫn đầu; Tập đoàn Dầu khí Quốc gia VN, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam cờ giải nhì; cờ giải ba thuộc về Tập đoàn Vinashin, Tập đoàn Dệt may Việt Nam, TCty CN Xi măng Việt Nam.

Theo Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Vinashin Phạm Thanh Bình có nhiều sai phạm trong huy động, quản lý, sử dụng tiền vốn của Nhà nước, do thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái và có biểu hiện vụ lợi cá nhân, gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội. Các khoản nợ của Vinashin rất lớn, mất khả năng thanh toán. Ông chủ tịch còn “bổ nhiệm con trai và em ruột làm đại diện phần vốn của nhà nước, đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng, trái quy định của Đảng và nhà nước”. Các lãnh đạo khác của Vinashin cũng đang tiến hành kiểm điểm trách nhiệm và một số có thể bị truy cứu trách nhiệm. 

UBKTTƯ đã rất nghiêm khắc khi quyết định thực hiện quy trình kiểm điểm, xử lý kỷ luật đối với ông Phạm Thanh Bình, đề nghị Chính phủ xem xét trách nhiệm của các Bộ, ngành có liên quan đối với những vi phạm của VINASHIN và chỉ đạo các ngành chức năng đánh giá toàn diện, đúng thực chất đối với VINASHIN, từ đó rút kinh nghiệm đối với các tập đoàn khác. Ủy ban cũng yêu cầu các tập đoàn kinh tế khác cần chủ động tự kiểm tra, tự xem xét, đánh giá đầy đủ, chính xác kết quả sản xuất, kinh doanh báo cáo trước ngày 31/8/2010 để UBKTTƯ tiếp tục giám sát. 

Các hậu quả của Vinasin có cả trách nhiệm cá nhân, lẫn lỗi cơ chế, khi cho phép một tập đoàn kinh tế quốc gia quan trọng như vậy mà tập quyền tuyệt đối: một người vừa là Bí thư Đảng ủy, vừa là Chủ tịch Hội đồng quản trị, lại vừa là Tổng giám đốc; Đồng thời, công tác thanh, kiểm tra thiếu kịp thời ngăn chặn sớm và triệt để, từ đó tạo thuận lợi cho việc cố ý làm trái và có biểu hiện vụ lợi cá nhân, gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội: các khoản nợ rất lớn, mất khả năng thanh toán, nợ quá hạn và đến hạn không có khả năng thanh toán lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng, hơn 5000 lao động không có việc làm; các khoản nợ luơng và bảo hiểm xã hội lên đến 234 tỷ đồng, gây hệ luỵ kinh tế-xã hội nặng nề tới nhiều cá nhân và tổ chức có liên quan.

Tập quyền cần đi đôi với phân quyền và tăng cường giám sát, kiểm tra và phản biện xã hội; Quyền hạn phải song hành với trách nhiệm cá nhân rõ ràng và nghiêm khắc; Minh bạch hoá và công khai hoá chi tiêu NSNN và đầu tư công; Các tổ chức và dự án kinh tế nhà nước phải được vận hành vì lợi ích xã hội cụ thể, chứ không phải là cơ chế tiêu tiền công một cách lãng phí cho lợi ích của các cá nhân, phe nhóm có đặc quyền. Đó là những bài học không mới, nhưng đã, đang và sẽ còn luôn nóng hổi trong thực tế quản lý nhà nước và kinh doanh nói chung, trong quản lý các tập đoàn và công ty nhà nước nói riêng ở Việt Nam và các nước chuyển đổi khác trên thế giới. (Hết)

TS.Nguyễn Minh Phong (Tầm nhìn)
Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu