Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Tường trình từ vùng đất giàu khoáng sản: Bài 1

13/08/2011 27 phút đọc Công Khanh – Đoàn Quý – Việt Đức (SGTT)
Nhóm phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị đã có một hành trình dài xuôi ngược trên nhiều cung đường của các huyện miền núi
Tường trình từ vùng đất giàu khoáng sản: Bài 1

Nhóm phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị đã có một hành trình dài xuôi ngược trên nhiều cung đường của các huyện miền núi thuộc tỉnh Hà Giang những ngày cuối tháng 7, đầu tháng 8.2011 trong cái nắng nóng như đổ lửa một cách bất thường của vùng Đông Bắc để ghi nhận về đời sống người dân, thực trạng khai thác khoáng sản tại các mỏ quặng cũng như sự tàn phá môi trường của con người dành cho vùng đất với tuổi đời của một thành phố tỉnh còn trẻ – 120 năm (20.8.1891 – 20.8.2011) và rất giàu tài nguyên khoáng sản này.

Bài 1: Được ít, mất nhiều

Cái mà chị Đặng Thị Lầu cảm nhận được khi quê chị có mỏ mangan mà chị chẳng biết để làm gì, là một tai nạn suýt cướp đi sinh mạng của mình và cướp đi sinh mạng của đứa con mình.

Từ ngày mỏ chì, kẽm Tùng Bá – Na Sơn thuộc xã Tùng Bá, huyện Vị Xuyên, đi vào khai thác thì đất đai canh tác của người dân bị thu hẹp do chất thải là một loại cát quá mịn tràn ngập cánh đồng lúa ven suối, thay cho lớp bùn phù sa của thời chưa khai mỏ. Nên sau mỗi mùa mưa lũ, người dân lại phải vét bỏ lớp “phù sa” công nghiệp hoá mà ai giàu đâu không thấy còn họ phải gánh hậu quả thì mới cấy được. Khi cày bừa xong cũng phải chọt lỗ cấy ngay chứ không đất đông cứng lại rất nhanh.

Một ngày chủ nhật giữa năm 2010, hai vợ chồng chị Lầu, dân tộc Dao, đang trên đường từ xã Giáp Trung xuống thị trấn Yên Phú, huyện Bắc Mê (Hà Giang) đi chợ phiên, thình lình một tảng đá cỡ năm tấc văng từ bãi khai thác mangan lộ thiên do xí nghiệp xây lắp Hùng Lâm khai thác ngay trên tuyến đường đi vào xã đập vào hông chị. Chiếc xe ngã xuống, đầu chị còn bị đập xuống đường, chảy rất nhiều máu…

Chị Lầu sau đó được chồng và “dưới quặng có hai đứa đi theo”, như chị cho biết, đưa đến bệnh viện siêu âm. Bên công ty lo viện phí và đưa cho chị 1 triệu đồng. Hậu quả là cơn đau đớn kéo dài hai đến ba tuần không làm lụng gì được và ba tháng sau, chị bị sẩy thai.

Con đường đi tới nơi chị Lầu sinh sống, nói như anh Hoàng Văn Tiến, trưởng công an xã Giáp Trung, “ai đi được thì đủ điều kiện để cấp bằng lái xe”. Con đường nhỏ chưa tới 40cm nằm chênh vênh một bên là núi, một bên là vực thẳm. Nó có một độ dốc không theo một quy chuẩn nào…

Kể lại câu chuyện, ánh mắt chị Lầu vẫn chưa hết kinh hoàng. Rồi là niềm thương tiếc đối với đứa con mà chị ngơ ngác không biết kêu ca vào đâu. Chủ tịch xã Giáp Trung Triệu Văn Minh, cho biết “những ca tai nạn như vậy không ít kể từ khi mỏ mangan ở xã được cấp phép khai thác (năm 2006, chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang lúc bấy giờ là ông Nguyễn Trường Tô đã ký quyết định cấp phép khai thác mỏ mangan Nà Viền – Giáp Trung cho xí nghiệp xây lắp Hùng Lâm – PV)”.

Không chỉ vậy, bên cạnh việc người dân nơi đây không có một đồng đền bù về diện tích canh tác bị thu để mở mỏ khai thác, mà còn được “tặng” lại một dòng suối ô nhiễm do xí nghiệp xây lắp Hùng Lâm, đơn vị khai thác mỏ mangan ở thôn Nà Viền, xã Giáp Trung xả thải, dòng suối mà bao năm nay gắn chặt với đời sống của nhiều hộ gia đình người Dao nơi đây. “Nay chúng tôi không dám dùng nước từ con suối này cho gia súc uống chứ đừng nói là người. Gia đình tôi phải dẫn nước từ một dòng suối khác về dùng làm nước sinh hoạt”, ông Hoàng Văn Vành, bức xúc.

Bên cạnh đó, trái với cam kết là khi đến khai thác, sẽ giúp đỡ các hộ dân nghèo của địa phương, bí thư xã Giáp Trung Nông Trọng Huấn cho biết: “Vận động lắm, tết vừa rồi xí nghiệp Hùng Lâm mới giúp cho các hộ dân nghèo được 500.000 đồng”.

Đất canh tác vốn đã ít còn ít thêm

Phần lớn người dân sống ở xã Giáp Trung, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang là người dân tộc Dao. Họ ở trong những ngôi nhà sàn thô sơ nằm lưng chừng dốc núi đá nhiều hơn đất, để tránh lũ về trên những con suối vào mùa mưa và làm nương rẫy bắp và lúa.

Họ chẳng nhận thức được liệu cái gọi là khoáng sản giàu có trên đất họ đem lại thêm cho họ những gì. Họ chỉ biết, từ ngày phát hiện có mỏ mangan ở xã Giáp Trung thì đời sống người dân đã khó lại thêm khó bởi đất canh tác bị thu hẹp. Đặc biệt là nhiều hộ dân có đất nơi phát hiện điểm mỏ bị trưng thu cũng không được đền bù. Thậm chí tiền đền bù cho cái công khai hoang cũng không có. “Chỉ có hộ ông Nguyễn Văn Báo là được đền bù 600.000 đồng”, ông Nông Trọng Huấn cho hay.

Phù sa chất thải

Chị Đặng Thị Lầu đang kể về những phút thập tử nhất sinh của mình do bị đá khai thác mỏ văng trúng. Ảnh:

Hay tại xã Minh Ngọc, huyện Bắc Mê, nơi không có sự hiện diện của các điểm mỏ nhưng lại là nơi hội tụ của các dòng suối trước khi đổ ra sông Gâm, đón nhận nước thải từ các mỏ khai thác khác trên đầu nguồn.

Người dân ở đây đa phần là đồng bào dân tộc Tày và sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa, bắp. Nhưng từ ngày mỏ chì, kẽm Tùng Bá – Na Sơn thuộc xã Tùng Bá, huyện Vị Xuyên, đi vào khai thác thì đất đai của người dân bị thu hẹp do chất thải là một loại cát quá mịn tràn ngập cánh đồng lúa ven suối, thay cho lớp bùn phù sa của thời chưa khai mỏ. Nên sau mỗi mùa mưa lũ, người dân lại phải vét bỏ lớp “phù sa” công nghiệp hoá mà ai giàu đâu không thấy còn họ phải gánh hậu quả thì mới cấy được. Khi cày bừa xong cũng phải chọt lỗ cấy ngay chứ không đất đông cứng lại rất nhanh.

“Sản lượng bị ảnh hưởng khoảng 30%. Xã đã cử đoàn cán bộ qua làm việc với mỏ khai thác này, nhưng rồi đâu lại vào đấy”, ông Nguyễn Thanh Chiển, phó chủ tịch UBND xã Minh Ngọc bức xúc.

Nơi có mỏ khai thác antimon thuộc xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh, cách huyện Bắc Mê khoảng 150km, cũng không khá gì hơn. Đa phần người dân ở đây là đồng bào dân tộc Mông, đời sống của họ cũng gắn liền với cây bắp, lúa nương.

Từ ngày mỏ antimon này được cấp phép khai thác thì phần lớn nương rẫy của đồng bào Mông nơi đây bị trưng thu với giá 11.000 đồng/m2. “Ngoài ra, mỗi hộ dân có đất bị trưng thu được một suất vào làm công nhân trong mỏ, nhưng số này cũng rất ít vì điều kiện họ đưa ra là phải có trình độ lớp 12. Thậm chí để được vào làm việc trong mỏ – đối với những hộ dân không có đất bị trưng thu – còn phải bỏ ra một số tiền khoảng trên 30 triệu đồng!”, ông Sình Quán Pao, một cán bộ thôn của xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh cho biết.

Có thể nói, từ khi phát triển công nghiệp mỏ thì cái mà địa phương và người dân “được hưởng lợi” từ tài nguyên khoảng sản trên quê hương họ là cuộc sống bị mất đi đất canh tác, những dòng suối chết, những con đường hư hỏng do xe chở quặng và chất thải quá tải, cũng như sự nguy hiểm rình rập hàng ngày khi đi qua những mỏ khai thác lộ thiên… (còn tiếp)

bài và ảnh: Công Khanh – Đoàn Quý – Việt Đức (SGTT)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu