![]() |
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan đã đưa ra cảnh báo này trong bài trả lời phỏng vấn báo chí về đổi mới kinh tế và những tồn tại của chính sách điều hành vĩ mô.
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan nêu rõ, chính sách tiền tệ phải rất kiên định, không thể vì lợi ích của một nhóm nhỏ mà lại đưa nền kinh tế toàn cục trở lại xáo động mới. Phải kiên trì, ít nhất là đến sang năm, để ổn định lại, sau đó mới có thể phát triển được.
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng, với việc ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP với những chính sách cắt giảm đầu tư công, kiểm soát tỷ giá, thắt chặt tiền tệ, Chính phủ đã kê đúng toa thuốc cho căn bệnh cần chữa. Thực tế, những chính sách đề ra trong Nghị quyết 11/NQ-CP đều là những biện pháp tất yếu mà nước nào rơi vào bất ổn kinh tế cũng phải áp dụng. Tuy nhiên, cái khó là áp dụng vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam như thế nào, mà đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam là có nhiều điểm rất đặc thù, nên việc áp dụng cũng phải có những đặc thù riêng.
Ví dụ, các nước thường xử lý lạm phát bằng cách phá giá đồng tiền và Việt Nam cũng làm như vậy. Tháng 3 năm nay, Chính phủ cũng đã phá giá tiền tệ hơn 9% để đẩy mạnh xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu. Thế nhưng, đặc thù của Việt Nam là có quá nhiều mặt hàng ta không sản xuất được, mà không nhập thì không có nguyên liệu sản xuất, nên dù phá giá tiền tệ để hạn chế, Việt Nam vẫn phải nhập siêu rất nhiều và kết quả là tiếp tục khiến lạm phát tăng.
Theo nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan, đặc thù của Việt Nam là có tới 80% doanh nghiệp dựa vào vốn vay ngân hàng. Vì vậy, việc thắt chặt tín dụng khiến những doanh nghiệp dựa vào vốn vay lao đao là điều dễ hiểu. Thiếu vốn, doanh nghiệp cắt giảm sản xuất thì hàng tiêu dùng lại thiếu, cung không đáp ứng được cầu, giá cả lại đội lên, kéo theo lạm phát.
Một đặc thù nữa của Việt Nam là nhiều mặt hàng vẫn được bao cấp, như than, xăng dầu, điện. Nếu Nhà nước cứ bao cấp mãi thì tình trạng mất cân đối càng nghiêm trọng, tiêu dùng càng lãng phí vì giá rẻ quá.
Nếu nhìn lại cuối những năm 80, đầu những năm 90, khi chúng ta quyết định bỏ bao cấp về gạo và mua - bán theo giá thị trường rồi bù giá vào lương cho đối tượng hưởng lương nhà nước, thì lập tức tiêu dùng gạo giảm hẳn, người nông dân cũng được bán gạo giá cao, kéo theo sản xuất phát triển, năng suất tăng đột biến.
Tương tự như vậy, nếu giá bán điện hiện nay được thả theo đúng giá thị trường, lập tức người tiêu dùng sẽ phải tiết kiệm hơn, nên tình trạng thiếu điện sẽ giảm. Đó mới là biện pháp hiệu quả, chứ đừng trông chờ vào việc hô hào tiết kiệm hay tinh thần tự giác.
Tuy nhiên, để làm được điều đó, phải có quyết tâm chính trị rất cao, phải mạnh dạn đương đầu với những phản ứng ban đầu. Tôi cũng là người tiêu dùng, nói như thế rất dễ bị phản ứng, nhưng không có cách nào khác. Nếu còn bao cấp, thì điện, than, xăng dầu sẽ còn bị lãng phí. Thế nhưng hiện nay, nếu ngay lập tức xóa bỏ toàn bộ bao cấp, điều chỉnh giá điện cho bằng giá thị trường thì sẽ lại tiếp tục gây ra lạm phát mới. Đó chính là cái khó trong việc xử lý vấn đề tại Việt Nam. Trong các biện pháp ngắn hạn phải có bóng dáng của những biện pháp dài hơi, đó là cấu trúc lại toàn bộ nền kinh tế. Đó là điều mà hiện nay tôi chưa nhận thấy rõ. Chẳng hạn, việc cắt giảm đầu tư công, đó là việc phải làm. Nhưng cắt giảm đầu tư công mới chỉ là cắt đi cái ngọn của vấn đề, vì nó đã xảy ra rồi, giờ chúng ta chỉ đi sửa chữa vấn đề của quá khứ. Cách tốt nhất là phải làm thế nào để nó không xảy ra.
Về chủ trương tái cấu trúc nền kinh tế, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan nêu rõ, tái cấu trúc đương nhiên là đúng, nhưng câu hỏi đặt ra là ai là người thực hiện? Chắc chắn không phải là Chính phủ, mà là doanh nghiệp, mà ở Việt Nam, doanh nghiệp tư nhân lại chiếm tỷ lệ rất cao. Vậy phải dùng biện pháp nào để thúc đẩy khu vực này tái cấu trúc? Cái chúng ta đang thiếu là một gói giải pháp kinh tế cụ thể để thúc đẩy các doanh nghiệp này. Nếu không kèm theo những biện pháp như thế, thì câu chuyện tái cấu trúc cũng chỉ ở trên giấy. Mệnh lệnh cũng chẳng ai làm, vì lợi ích không có, điều kiện không có thì họ làm làm gì? Khi ban hành nghị quyết, mệnh lệnh nếu không đi kèm những biện pháp về kinh tế mạnh mẽ để buộc họ đi vào con đường mình muốn, thì sẽ khó có thể thành hiện thực.
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng việc có quá nhiều mệnh lệnh hành chính trong quản lý kinh tế, trong khi hiệu lực thực thi lại kém là một trong những vấn đề tồn tại trong điều hành vĩ mô. Quản lý đất nước đương nhiên phải dùng những biện pháp hành chính, nhưng chủ yếu liên quan đến trật tự, an toàn xã hội, còn trong kinh tế phải hạn chế tối đa mệnh lệnh hành chính, vì nó hầu như không có tác dụng.
Chẳng hạn, mới đây, Ngân hàng Nhà nước ra văn bản yêu cầu phải chống đầu cơ vàng bằng được và sẽ kiên quyết nghiêm trị những cá nhân, tổ chức đầu cơ. Thử hỏi, ai là người có thể kiểm tra trong hàng ngàn, hàng vạn người buôn bán vàng để xem đâu là người đầu cơ và đã có ai bị xử lý hay chưa?
Chúng ta ra quá nhiều mệnh lệnh mà không thực hiện được, khiến xã hội dần trở nên “nhờn” với pháp luật. Chống lạm phát, hay điều hành kinh tế phải bằng những biện pháp kinh tế. Chỉ ở những trường hợp cấp bách thì mới áp dụng biện pháp hành chính, vì nó hầu như không có kết quả, mà chỉ đẻ ra tiêu cực. Người tiêu dùng rất thông minh, chặn bằng biện pháp hành chính này, thì họ lại tìm ra cách khác.
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan nêu rõ, chính sách tiền tệ phải rất kiên định, không thể vì lợi ích của một nhóm nhỏ mà lại đưa nền kinh tế toàn cục trở lại xáo động mới. Phải kiên trì, ít nhất là đến sang năm, để ổn định lại, sau đó mới có thể phát triển được.
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng, với việc ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP với những chính sách cắt giảm đầu tư công, kiểm soát tỷ giá, thắt chặt tiền tệ, Chính phủ đã kê đúng toa thuốc cho căn bệnh cần chữa. Thực tế, những chính sách đề ra trong Nghị quyết 11/NQ-CP đều là những biện pháp tất yếu mà nước nào rơi vào bất ổn kinh tế cũng phải áp dụng. Tuy nhiên, cái khó là áp dụng vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam như thế nào, mà đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam là có nhiều điểm rất đặc thù, nên việc áp dụng cũng phải có những đặc thù riêng.
Ví dụ, các nước thường xử lý lạm phát bằng cách phá giá đồng tiền và Việt Nam cũng làm như vậy. Tháng 3 năm nay, Chính phủ cũng đã phá giá tiền tệ hơn 9% để đẩy mạnh xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu. Thế nhưng, đặc thù của Việt Nam là có quá nhiều mặt hàng ta không sản xuất được, mà không nhập thì không có nguyên liệu sản xuất, nên dù phá giá tiền tệ để hạn chế, Việt Nam vẫn phải nhập siêu rất nhiều và kết quả là tiếp tục khiến lạm phát tăng.
Theo nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan, đặc thù của Việt Nam là có tới 80% doanh nghiệp dựa vào vốn vay ngân hàng. Vì vậy, việc thắt chặt tín dụng khiến những doanh nghiệp dựa vào vốn vay lao đao là điều dễ hiểu. Thiếu vốn, doanh nghiệp cắt giảm sản xuất thì hàng tiêu dùng lại thiếu, cung không đáp ứng được cầu, giá cả lại đội lên, kéo theo lạm phát.
Một đặc thù nữa của Việt Nam là nhiều mặt hàng vẫn được bao cấp, như than, xăng dầu, điện. Nếu Nhà nước cứ bao cấp mãi thì tình trạng mất cân đối càng nghiêm trọng, tiêu dùng càng lãng phí vì giá rẻ quá.
Nếu nhìn lại cuối những năm 80, đầu những năm 90, khi chúng ta quyết định bỏ bao cấp về gạo và mua - bán theo giá thị trường rồi bù giá vào lương cho đối tượng hưởng lương nhà nước, thì lập tức tiêu dùng gạo giảm hẳn, người nông dân cũng được bán gạo giá cao, kéo theo sản xuất phát triển, năng suất tăng đột biến.
Tương tự như vậy, nếu giá bán điện hiện nay được thả theo đúng giá thị trường, lập tức người tiêu dùng sẽ phải tiết kiệm hơn, nên tình trạng thiếu điện sẽ giảm. Đó mới là biện pháp hiệu quả, chứ đừng trông chờ vào việc hô hào tiết kiệm hay tinh thần tự giác.
Tuy nhiên, để làm được điều đó, phải có quyết tâm chính trị rất cao, phải mạnh dạn đương đầu với những phản ứng ban đầu. Tôi cũng là người tiêu dùng, nói như thế rất dễ bị phản ứng, nhưng không có cách nào khác. Nếu còn bao cấp, thì điện, than, xăng dầu sẽ còn bị lãng phí. Thế nhưng hiện nay, nếu ngay lập tức xóa bỏ toàn bộ bao cấp, điều chỉnh giá điện cho bằng giá thị trường thì sẽ lại tiếp tục gây ra lạm phát mới. Đó chính là cái khó trong việc xử lý vấn đề tại Việt Nam. Trong các biện pháp ngắn hạn phải có bóng dáng của những biện pháp dài hơi, đó là cấu trúc lại toàn bộ nền kinh tế. Đó là điều mà hiện nay tôi chưa nhận thấy rõ. Chẳng hạn, việc cắt giảm đầu tư công, đó là việc phải làm. Nhưng cắt giảm đầu tư công mới chỉ là cắt đi cái ngọn của vấn đề, vì nó đã xảy ra rồi, giờ chúng ta chỉ đi sửa chữa vấn đề của quá khứ. Cách tốt nhất là phải làm thế nào để nó không xảy ra.
Về chủ trương tái cấu trúc nền kinh tế, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan nêu rõ, tái cấu trúc đương nhiên là đúng, nhưng câu hỏi đặt ra là ai là người thực hiện? Chắc chắn không phải là Chính phủ, mà là doanh nghiệp, mà ở Việt Nam, doanh nghiệp tư nhân lại chiếm tỷ lệ rất cao. Vậy phải dùng biện pháp nào để thúc đẩy khu vực này tái cấu trúc? Cái chúng ta đang thiếu là một gói giải pháp kinh tế cụ thể để thúc đẩy các doanh nghiệp này. Nếu không kèm theo những biện pháp như thế, thì câu chuyện tái cấu trúc cũng chỉ ở trên giấy. Mệnh lệnh cũng chẳng ai làm, vì lợi ích không có, điều kiện không có thì họ làm làm gì? Khi ban hành nghị quyết, mệnh lệnh nếu không đi kèm những biện pháp về kinh tế mạnh mẽ để buộc họ đi vào con đường mình muốn, thì sẽ khó có thể thành hiện thực.
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng việc có quá nhiều mệnh lệnh hành chính trong quản lý kinh tế, trong khi hiệu lực thực thi lại kém là một trong những vấn đề tồn tại trong điều hành vĩ mô. Quản lý đất nước đương nhiên phải dùng những biện pháp hành chính, nhưng chủ yếu liên quan đến trật tự, an toàn xã hội, còn trong kinh tế phải hạn chế tối đa mệnh lệnh hành chính, vì nó hầu như không có tác dụng.
Chẳng hạn, mới đây, Ngân hàng Nhà nước ra văn bản yêu cầu phải chống đầu cơ vàng bằng được và sẽ kiên quyết nghiêm trị những cá nhân, tổ chức đầu cơ. Thử hỏi, ai là người có thể kiểm tra trong hàng ngàn, hàng vạn người buôn bán vàng để xem đâu là người đầu cơ và đã có ai bị xử lý hay chưa?
Chúng ta ra quá nhiều mệnh lệnh mà không thực hiện được, khiến xã hội dần trở nên “nhờn” với pháp luật. Chống lạm phát, hay điều hành kinh tế phải bằng những biện pháp kinh tế. Chỉ ở những trường hợp cấp bách thì mới áp dụng biện pháp hành chính, vì nó hầu như không có kết quả, mà chỉ đẻ ra tiêu cực. Người tiêu dùng rất thông minh, chặn bằng biện pháp hành chính này, thì họ lại tìm ra cách khác.
Mỹ Loan (Tầm nhìn)
