Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Đằng sau con số 6.000 doanh nghiệp phá sản

06/09/2011 6 phút đọc Đức Trung
Bình quân mọi năm ở nước ta phá sản và giải thể khoảng 6.000 doanh nghiệp (DN), nhưng nửa năm nay, con số này đã tăng gấp
Đằng sau con số 6.000 doanh nghiệp phá sản
Bình quân mọi năm ở nước ta phá sản và giải thể khoảng 6.000 doanh nghiệp (DN), nhưng nửa năm nay, con số này đã tăng gấp đôi.

 

 
TS Lê Thẩm Dương, trưởng khoa Quản trị và Kinhdoanh Trường Đại học Ngân Hàng Tp. Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh điều này khi chia sẻ với báo giới về các vấn đề xung quanh những giải pháp kiềm chế lạm phát những tháng cuối năm.

Theo TS Lê Thẩm Dương, DN "chết" tăng, nghĩa là hàng giảm. Nhưng hàng giảm mà vẫn không cân đối được tiền - hàng, nhiều lĩnh vực tồn kho tăng mạnh nhưng không ít nơi lại thiếu. Cũng như việc ta chấp nhận "hy sinh" nhiều thứ khi "hút" tiền về. Nhưng đưa tiền ra ít mà hệ số Icor (hiệu quả sử dụng vốn) cao khiến lạm phát tăng cao.

Nhìn rõ nhất là trong lĩnh vực quản lý giá, do thực hiện thiếu quyết liệt nên nạn đầu cơ xảy ra tràn lan trên khắp các mặt trận, từ cà chua đến vàng đều bị thao túng. Hiện tượng chợ đầu mối rau củ giá rẻ như bèo nhưng ra đến chợ lẻ, giá bị thổi lên trời hay giá vàng trong nước cao hơn thế giới đến vài triệu đồng... đã xảy ra nhiều lần trong thời gian qua. Tất nhiên, chống lạm phát thì phải chấp nhận hy sinh, chấp nhận giảm GDP. Nhưng giảm mà không chống được thì đó chính là hậu quả.

TS Lê Thẩm Dương nêu rõ, ngoài nguyên nhân tiền tệ, lạm phát của ta còn do các nguyên nhân khác như chi phí đẩy (chi phí đầu vào gồm xăng, điện, giá nguyên liệu nhập khẩu tăng; chế độ quản lý giá kém; tham nhũng, lãng phí, đầu cơ...).

Trong bối cảnh đó, kéo tiền về bao nhiêu cũng không giải quyết được lạm phát mà phải tập trung vào chống nguyên nhân gây ra tăng giá. Cần tỏ rõ thái độ về giá xăng; thực phẩm cuối năm phải chuẩn bị ngay từ bây giờ để cắt cửa đầu cơ; "trấn" ngoại tệ và vàng kể cả bằng cơ chế tạm thời để cắt cửa thổi giá.

Một nguyên nhân nữa là do tâm lý. Khi người ta mất lòng tin vào đồng tiền, người ta không giữ tiền mà mang ra mua vàng, mua ngoại tệ, mua hàng hóa, mua ngay cả thứ không cần... Nếu không "giam" được yếu tố lòng tin lại thì lạm phát rất khó chống. Đây chính là cội nguồn của lạm phát kỳ vọng.

Ví dụ, lạm phát của ta lẽ ra là 17% nhưng trong đầu người ta cứ tính 20 - 22%. Và khi tính giá cả hàng hóa, tiêu dùng, gửi tiết kiệm... người ta đều cộng thêm phần kỳ vọng này vào cho yên tâm. Vậy là giá tăng, gây ra lạm phát. Đó là lý do, nếu không "kéo" được lòng tin về là thua.

Nếu chúng ta cũng tập trung chống chi phí đẩy, cầu kéo và lòng tin quyết liệt như đã làm với chính sách tiền tệ, có thểi tin rằng sẽ kiểm soát được lạm phát trong những tháng cuối năm.

TS Lê Thẩm Dương cho rằng, do đầu năm ta thắt quá chặt (tăng trưởng tín dụng 7 tháng đầu năm chỉ 7,23%) nên từ nay đến cuối năm, nếu ta "bơm" tiền ra cho đủ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 20% và tổng phương tiện thanh toán 16% chắc chắn lạm phát càng cao. Nhưng nếu giữ nguyên hoặc tiếp tục "co" vào thì sẽ tác động đến các nguyên nhân còn lại như phí đầu vào cao, cầu hàng hóa giảm, niềm tin giảm... còn chết hơn. Đáng sợ nhất là đình đốn sản xuất. Nếu nguyên nhân chỉ là tiền thì kéo tiền về là chữa được, nhưng nguyên nhân do đình đốn sản xuất là hết thuốc chữa. Vì DN phá sản thì làm sao chữa được nữa. Nên chắc chắn phải bơm tiền ra thôi. Vấn đề của các nhà quản lý là bơm bao nhiêu để tiếp sức cho nền kinh tế nhưng không áp lực lên lạm phát.

TS Lê Thẩm Dương nêu rõ, chúng ta đã đổi giá, đã thanh lọc, thị trường đã đạt đến mức trả giá nhất định. Tất cả những điều này khẳng định, việc thắt chặt tiền tệ tới thời điểm này đã đến ngưỡng. Đã đến lúc phải bơm tiền ra. Nhưng bơm ra phải đồng thời với việc "nắn dòng" tín dụng vào đúng nơi, đúng chỗ. Đó là vào DN vừa và nhỏ; các DN được ưu tiên (nông nghiệp, xuất khẩu) và phải có thái độ rõ ràng với chứng khoán và bất động sản. Chứng khoán là kênh huy động vốn, bất động sản còn là an sinh xã hội, còn các ngành nguyên vật liệu đi kèm... Đây là 2 thị trường tất yếu nên không thể "buông" được. Nếu bơm tiền đúng nơi, đúng chỗ sẽ tác động tích cực lên chỉ số CPI chứ không phải cứ bơm tiền ra là lạm phát.

Về việc NHNN công bố tăng dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, TS Lê Thẩm Dương rằng, việc NHNN tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ thêm 1% là điều không bất ngờ. Hiện tăng trưởng tín dụng ngoại tệ đã trên 24% trong khi tăng trưởng VND hơn 7%. Do vậy, việc nâng dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ nhằm làm cho tiền gửi và lãi suất USD kém hấp dẫn cũng như tránh sức ép lên tỷ giá cuối năm.

Theo TS Lê Thẩm Dương, trước đó NHNN đã thực hiện động thái này và thu được hiệu quả. Tuy nhiên, việc tăng 1% mới chỉ là bước thăm dò để thanh khoản ngoại tệ không giảm đột ngột. Mức tăng 1% có tác dụng chưa đủ mạnh do chênh lệch với lãi suất VND vẫn còn cao.

Dự báo tỷ giá cuối năm, TS Lê Thẩm Dương cho rằng hiện nay chúng ta có thể an tâm vì NHNN có đủ sức can thiệp. Vấn đề là thời điểm can thiệp chưa đến lúc.

Đức Trung (Tầm nhìn)
Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu