![]() |
Tiến sỹ Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia đã nhận định như vậy trong buổi hội thảo tổ chức chiều 7/10 tại CTCK Vietcombank.
Tiến sỹ Lê Xuân Nghĩa cho biết, theo thống kê, chênh lệch cho vay bằng ngoại hối của Việt Nam đang ở mức 7,5 tỷ USD (tổng cho vay bằng ngoại tệ là 30 tỷ USD, trong khi huy động tiền gửi bằng ngoại tệ chỉ là 22,5 tỷ USD).
7,5 tỷ USD không phải là con số quá nhiều nhưng nếu như thời gian đáo hạn chỉ dồn vào 3 tháng cuối năm thì đây sẽ là một lực cầu rất lớn của thị trường ngoại hối. Chính vì thế nếu như ngay từ bây giờ NHNN không có những chính sách hợp lý, linh hoạt thì sức ép tăng giá ngoại tệ là rất lớn.
Theo các chuyên gia, dự báo mức tăng trưởng dư nợ tín dụng ngoại tệ có thể đạt 30% vào cuối năm. Việc tăng nhanh mức dư nợ ngoại tệ như thế đồng thời với việc gây nhiều rủi ro lên tỷ giá vào giai đoạn đáo hạn, mà cao điểm là vào dịp cuối năm. Đó là chưa nói đến chuyện có rủi ro do mất cân đối giữa đồng tiền nội tệ và ngoại tệ khi cung ứng ra nền kinh tế. Bởi lẽ, nếu đơn vị vay ngoại tệ cũng là đơn vị tạo ra được ngoại tệ, thì không có vấn đề rủi ro. Nhưng nếu vay ngoại tệ, mà lại chỉ tạo ra nội tệ, thì đó là vấn đề đối với việc gia tăng áp lực nợ xấu ngoại tệ. Nếu vay mà không trả, ngân hàng sẽ gặp rủi ro về thanh khoản. Sự mất cân đối đó càng làm tăng áp lực lên tỷ giá, lên lạm phát.
Trong khi đó, cũng có lo ngại về việc các ngân hàng cung ứng vốn ngoại tệ khá lớn, ngoài khả năng huy động, nên rất có thể đã phải vay từ nước ngoài. Nếu đây là nhận định chính xác, và đến thời điểm đáo hạn ngân hàng không thu hồi đủ nợ, thì sẽ phát sinh hệ lụy xấu với thanh khoản. Các ngân hàng, khách hàng của ngân hàng đều phải tìm cách huy động ngoại tệ, sẽ làm tăng áp lực tỷ giá.
Phó viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Võ Trí Thành cho rằng, hiện tại, điều mà Ngân hàng Nhà nước đã cố gắng và đang làm là tổng rà soát lại thông tin huy động, cho vay của các ngân hàng thương mại. Nhưng để đánh giá rủi ro cụ thể thì phải đánh giá cơ cấu vay, đối tượng vay, vay để sản xuất hàng xuất khẩu hay tiêu thụ trong nước, bao giờ đáo hạn.
Theo các chuyên gia kinh tế, một yếu tố rất quan trọng là thị trường tài chính rất phụ thuộc vào tâm lý người dân và thông tin minh bạch. Thông tin không rõ ràng rất dễ gây hệ lụy xấu.
Theo Ts Nguyễn Đại Lai, Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước, có nhiều khoản ngoại tệ vay nhập khẩu nguyên liệu về sản xuất trong nước, nhưng không xuất khẩu được, mà lại bán trong nước. Cộng thêm chi phí cao, sức tiêu thụ hàng hóa giảm, không bán được hàng, dẫn đến tình trạng tồn kho, vốn bị đọng. Không xuất khẩu được thì không tái tạo được ngoại tệ, dẫn đến tình trạng nợ xấu.
Những yếu tố đó đều là những nguy cơ có thể dự báo. Nhưng còn có những cú sốc đến tỷ giá rất khó dự báo, đó là giá vàng. Từ đầu năm đến nay, cơn lốc giá vàng khiến Ngân hàng Nhà nước liên tục phải cho nhập khẩu vàng. Mà không nhập chính ngạch, thì chênh lệch giá vàng như vừa rồi, cũng sẽ là cơ hội béo bở của giới buôn lậu. Câu hỏi là với những tác động và cú sốc như thế, thì mục tiêu đảm bảo tỷ giá không biến động quá 1% được Ngân hàng Nhà nước đặt ra có cơ sở vững chắc hay không?
Tính đến cuối tháng 9, Bộ Công thương cho biết, đã nhập khẩu lượng vàng trị giá 1,5 tỷ USD. Đây là con số không hề nhỏ trong bối cảnh kiểm soát lạm phát là mục tiêu hàng đầu và ổn định tỷ giá để ổn định đồng tiền nội tệ. Nếu tiếp tục cho nhập khẩu, thì rõ ràng làm phần dương của cân đối cán cân thanh toán tổng thể nhỏ đi. Do vậy, phải có những biện pháp khác nữa thay vì chỉ có biện pháp cho nhập khẩu vàng là chủ đạo như thời gian vừa qua.
Tuy nhiên,Tiến sỹ Lê Xuân Nghĩa cũng cho rằng, thông điệp phát đi từ Thống đốc NHNN về việc neo tỷ giá thay đổi không quá 1% từ nay đến cuối năm nói lên rằng: NHNN sẵn sàng can thiệp và đủ sức can thiệp vào thị trường ngoại hối để ổn định tỷ giá hối đoái trong năm nay. Đến thời điểm này thì có thể tạm thời yên tâm về vấn đề tỷ giá của năm nay.
Theo Tiến sỹ Lê Xuân Nghĩa, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đã tăng trở lại. Nếu như quý I/2011 tỷ lệ dự trữ ngoại hối đạt 3,5 tuần nhập khẩu thì đến tháng 9/2011 tỷ lệ này đã nâng lên đạt 7 tuần nhập khẩu và dự kiến cuối năm sẽ đạt 8 tuần – một con số rất tích cực. Tỷ giá hối đoái hiện nay khá ổn định, tuy nhiên áp lực về tỷ giá từ nay đến cuối năm 2011 không phải là không có.
Tiến sỹ Lê Xuân Nghĩa cho biết, theo thống kê, chênh lệch cho vay bằng ngoại hối của Việt Nam đang ở mức 7,5 tỷ USD (tổng cho vay bằng ngoại tệ là 30 tỷ USD, trong khi huy động tiền gửi bằng ngoại tệ chỉ là 22,5 tỷ USD).
7,5 tỷ USD không phải là con số quá nhiều nhưng nếu như thời gian đáo hạn chỉ dồn vào 3 tháng cuối năm thì đây sẽ là một lực cầu rất lớn của thị trường ngoại hối. Chính vì thế nếu như ngay từ bây giờ NHNN không có những chính sách hợp lý, linh hoạt thì sức ép tăng giá ngoại tệ là rất lớn.
Theo các chuyên gia, dự báo mức tăng trưởng dư nợ tín dụng ngoại tệ có thể đạt 30% vào cuối năm. Việc tăng nhanh mức dư nợ ngoại tệ như thế đồng thời với việc gây nhiều rủi ro lên tỷ giá vào giai đoạn đáo hạn, mà cao điểm là vào dịp cuối năm. Đó là chưa nói đến chuyện có rủi ro do mất cân đối giữa đồng tiền nội tệ và ngoại tệ khi cung ứng ra nền kinh tế. Bởi lẽ, nếu đơn vị vay ngoại tệ cũng là đơn vị tạo ra được ngoại tệ, thì không có vấn đề rủi ro. Nhưng nếu vay ngoại tệ, mà lại chỉ tạo ra nội tệ, thì đó là vấn đề đối với việc gia tăng áp lực nợ xấu ngoại tệ. Nếu vay mà không trả, ngân hàng sẽ gặp rủi ro về thanh khoản. Sự mất cân đối đó càng làm tăng áp lực lên tỷ giá, lên lạm phát.
Trong khi đó, cũng có lo ngại về việc các ngân hàng cung ứng vốn ngoại tệ khá lớn, ngoài khả năng huy động, nên rất có thể đã phải vay từ nước ngoài. Nếu đây là nhận định chính xác, và đến thời điểm đáo hạn ngân hàng không thu hồi đủ nợ, thì sẽ phát sinh hệ lụy xấu với thanh khoản. Các ngân hàng, khách hàng của ngân hàng đều phải tìm cách huy động ngoại tệ, sẽ làm tăng áp lực tỷ giá.
Phó viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Võ Trí Thành cho rằng, hiện tại, điều mà Ngân hàng Nhà nước đã cố gắng và đang làm là tổng rà soát lại thông tin huy động, cho vay của các ngân hàng thương mại. Nhưng để đánh giá rủi ro cụ thể thì phải đánh giá cơ cấu vay, đối tượng vay, vay để sản xuất hàng xuất khẩu hay tiêu thụ trong nước, bao giờ đáo hạn.
Theo các chuyên gia kinh tế, một yếu tố rất quan trọng là thị trường tài chính rất phụ thuộc vào tâm lý người dân và thông tin minh bạch. Thông tin không rõ ràng rất dễ gây hệ lụy xấu.
Theo Ts Nguyễn Đại Lai, Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước, có nhiều khoản ngoại tệ vay nhập khẩu nguyên liệu về sản xuất trong nước, nhưng không xuất khẩu được, mà lại bán trong nước. Cộng thêm chi phí cao, sức tiêu thụ hàng hóa giảm, không bán được hàng, dẫn đến tình trạng tồn kho, vốn bị đọng. Không xuất khẩu được thì không tái tạo được ngoại tệ, dẫn đến tình trạng nợ xấu.
Những yếu tố đó đều là những nguy cơ có thể dự báo. Nhưng còn có những cú sốc đến tỷ giá rất khó dự báo, đó là giá vàng. Từ đầu năm đến nay, cơn lốc giá vàng khiến Ngân hàng Nhà nước liên tục phải cho nhập khẩu vàng. Mà không nhập chính ngạch, thì chênh lệch giá vàng như vừa rồi, cũng sẽ là cơ hội béo bở của giới buôn lậu. Câu hỏi là với những tác động và cú sốc như thế, thì mục tiêu đảm bảo tỷ giá không biến động quá 1% được Ngân hàng Nhà nước đặt ra có cơ sở vững chắc hay không?
Tính đến cuối tháng 9, Bộ Công thương cho biết, đã nhập khẩu lượng vàng trị giá 1,5 tỷ USD. Đây là con số không hề nhỏ trong bối cảnh kiểm soát lạm phát là mục tiêu hàng đầu và ổn định tỷ giá để ổn định đồng tiền nội tệ. Nếu tiếp tục cho nhập khẩu, thì rõ ràng làm phần dương của cân đối cán cân thanh toán tổng thể nhỏ đi. Do vậy, phải có những biện pháp khác nữa thay vì chỉ có biện pháp cho nhập khẩu vàng là chủ đạo như thời gian vừa qua.
Tuy nhiên,Tiến sỹ Lê Xuân Nghĩa cũng cho rằng, thông điệp phát đi từ Thống đốc NHNN về việc neo tỷ giá thay đổi không quá 1% từ nay đến cuối năm nói lên rằng: NHNN sẵn sàng can thiệp và đủ sức can thiệp vào thị trường ngoại hối để ổn định tỷ giá hối đoái trong năm nay. Đến thời điểm này thì có thể tạm thời yên tâm về vấn đề tỷ giá của năm nay.
Theo Tiến sỹ Lê Xuân Nghĩa, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đã tăng trở lại. Nếu như quý I/2011 tỷ lệ dự trữ ngoại hối đạt 3,5 tuần nhập khẩu thì đến tháng 9/2011 tỷ lệ này đã nâng lên đạt 7 tuần nhập khẩu và dự kiến cuối năm sẽ đạt 8 tuần – một con số rất tích cực. Tỷ giá hối đoái hiện nay khá ổn định, tuy nhiên áp lực về tỷ giá từ nay đến cuối năm 2011 không phải là không có.
Minh Giang (Tầm nhìn)
