![]() |
Ts. Lê Xuân Nghĩa - Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia nhấn mạnh điều này khi đề cập tới nhu cầu tái cấu trúc, sáp nhập các NHTM.
Ts. Lê Xuân Nghĩa cho rằng, tái cấu trúc thì không hẳn là nhắm vào các NHTM nhỏ mà tập trung vào những ngân hàng nào có tỷ lệ nợ xấu vượt quá 5% .Đây là đối tượng phải tập trung tái cấu trúc lại tài chính và các định chế quản lý tài chính như quản trị rủi ro.
Những ngân hàng nhỏ mà khỏe thì không phải là đối tượng bởi bản thân các ngân hàng này có những phân khúc khách hàng của họ. Những ngân hàng nhỏ mà yếu thì buộc phải giải thế, buộc phải phá sản là đương nhiên.
Theo Ts. Lê Xuân Nghĩa, có 4 lý do chính để Việt Nam phải tái cơ cấu lại hệ thống ngân hàng. Thứ nhất, không phải vì quy mô ngân hàng quá nhỏ mà là do chất lượng tài sản của các hệ thống ngân hàng yếu, đặc biệt là năng lực quản trị rủi ro và quản trị doanh nghiệp kém.
Nếu đặt ra tiêu chí chất lượng tài sản thì có rất nhiều ngân hàng có chất lượng tài sản ở mức cần phải xem xét lại một cách nghiêm túc. Nhiều ngân hàng gọi là nhỏ nhưng so với những ngân hàng nhỏ của Mỹ thì vẫn là hạng trung bình. Ví dụ ở Mỹ, ngân hàng nhỏ của nó có vốn tự có chỉ từ 10 – 15 triệu USD, ở Việt Nam thì vốn tự có của những ngân hàng nhỏ này cũng xấp xỉ 100 triệu USD, nên không thể nào gọi nó là nhỏ được.
Thứ hai, nhiều ngân hàng vấn đề quản trị doanh nghiệp rất yếu và có 1 xu thế, cổ đông lớn không quan tâm tới lợi ích cộng đồng và những cổ đông nhỏ, chỉ quan tâm tới lợi ích của chính mình, cho nên họ biến tướng rất nhiều để cho vay những lĩnh vực rất nguy hiểm đối với ngân hàng hoặc cho vay chéo chính những công ty con của mình. Mặc dù NHNN có quy định rất chặt chẽ trong việc cho vay với doanh nghiệp là cổ đông nhưng họ lại lách bằng cách nào đó để không có tên trong danh sách cổ đông ở những ngân hàng đấy, mượn người khác đứng tên. Làm cho rủi ro của những ngân hàng này cả về ngắn hạn lẫn dài hạn là rất lớn.
Thứ ba, ngay cả vấn đề trích lập dự phòng rủi ro của các ngân hàng Việt Nam không đủ để bù đắp rủi ro nói chung và rủi ro riêng cho từng dự án của một ngân hàng. Điều đó làm cho lợi nhuận của các ngân hàng này là không đúng, hạch toán chưa chính xác. Nếu họ trích lập dự phòng đầy đủ thì lợi nhuận sẽ thấp hơn nhiều.
Thứ tư, ngân hàng loại nhỏ thường mới tăng vốn và tăng vốn theo quy định, vì vậy nhu cầu mở rộng mạng lưới, tổng tài sản tương ứng. rủi ro lớn của những ngân hàng này là cho dù trụ sở chính đặt ở đâu thì cũng tập trung ở những đô thị lớn để mở chi nhánh, phòng giao dịch. Điều này làm cho mức độ cạnh tranh rất khốc liệt và không lành mạnh.
Ts. Lê Xuân Nghĩa kiến nghị, tái cấu trúc phải chiểu theo Luật của NHNN, Luật các tổ chức tín dụng để thực hiện. Chúng ta phải xác định lại toàn bộ tỉ lệ chiếm hữu cổ phần của một cổ đông trong ngân hàng, luật mới quy định 5% và các ngân hàng phải đưa về đúng tỷ lệ đó.
Nguồn tiền góp vốn vào ngân hàng cũng phải truy đến cùng để xem nguồn tiền có sạch không và có phải vốn thật sự của doanh nghiệp đó không hay vốn ảo, núp dưới hình thức phát hành trái phiếu cho các công ty con của mình, hay đá chéo vốn cho nhau…
Ngân hàng Nhà nước cho biết, trong 5 năm tới, củng cố, chấn chỉnh và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng là nhiệm vụ cấp bách của ngành ngân hàng, để cùng với tái cấu trúc đầu tư với trọng tâm là đầu tư công và tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước, nhằm thực hiện thành công chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng.
Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra bốn quan điểm và nguyên tắc cơ bản đối với quá trình tái cơ cấu này.
Thứ nhất, phát triển một hệ thống ngân hàng đa dạng về sở hữu, quy mô và loại hình nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của nền kinh tế về dịch vụ ngân hàng từ thành thị tới nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Về quy mô, hệ thống ngân hàng có các ngân hàng lớn đủ sức cạnh tranh trong khu vực; có các ngân hàng lớn làm trụ cột trong hệ thống ngân hàng; có những ngân hàng vừa và nhỏ, tổ chức tín dụng phi ngân hàng hoạt động có hiệu quả trong một phân khúc thị trường thích hợp và đáp ứng nhu cầu dịch vụ ngân hàng mỗi tầng lớp trong xã hội.
Thứ hai, đảm bảo nâng cao tính an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng.
Thứ ba, việc sáp nhập, hợp nhất ngân hàng theo nguyên tắc tự nguyện, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và các quyền, nghĩa vụ kinh tế của các bên có liên quan.
Thứ tư, tái cơ cấu ngân hàng được triển khai dưới nhiều hình thức, biện pháp và theo lộ trình thích hợp. Căn cứ vào đặc điểm của ngân hàng cụ thể sẽ có hình thức và biện pháp hợp lý.
Ngân hàng Nhà nước cho rằng, sáp nhập, hợp nhất ngân hàng hàng là xu hướng tất yếu khách quan hiện nay để nâng cao khả năng cạnh tranh. Sáp nhập, hợp nhất ngân hàng đem lại giá trị gia tăng lớn hơn so với khi các ngân hàng đứng riêng rẽ nhờ đạt được lợi ích kinh tế theo quy mô lớn hơn, tăng uy tín, thương hiệu, giảm chi phí, khai thác tối đa lợi thế kinh doanh của các bên tham gia, phát triển cơ sở khách hàng, màng lưới phân phối… Do đó, xu hướng sáp nhập, hợp nhất ngân hàng có thể xảy giữa các ngân hàng lớn với nhau, giữa ngân hàng lớn và ngân hàng nhỏ, giữa các ngân hàng nhỏ với nhau.
Ngân hàng Nhà nước nhận định, hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp hiện nay tương đối đồng bộ, hoàn chỉnh như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh, Luật Chứng khoán. Lĩnh vực ngân hàng còn có Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng.
Và trên cơ sở các văn pháp có liên quan, ngày 11/2/2011 Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 04/2010/TT-NHNN quy định việc sáp nhập, hợp nhất và mua lại tổ chức tín dụng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng.
Minh Đăng (Tầm nhìn)
