Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Vì sao rủi ro Hệ thống Ngân hàng lên mức cao nhất?

13/11/2011 6 phút đọc Quang Thành
Standard & Poor's (S&P) đã điều chỉnh Đánh giá Mức độ Rủi ro trong Hệ thống Ngân hàng (BICRA) của Việt Nam lên mức cao
Vì sao rủi ro Hệ thống Ngân hàng lên mức cao nhất?
Standard & Poor's (S&P) đã điều chỉnh Đánh giá Mức độ Rủi ro trong Hệ thống Ngân hàng (BICRA) của Việt Nam lên mức cao nhất.

 

 
Mức điểm rủi ro kinh tế “10” mà S&P dành cho Việt Nam phản ánh “rủi ro rất cao” đối với sự linh hoạt của nền kinh tế, sự mất cân bằng kinh tế và rủi ro tín dụng “cực kỳ cao” trong nền kinh tế..
 
Rủi ro ngành ngân hàng của Việt Nam được đánh giá 8 điểm, cũng thể hiện mức độ "rủi ro cực cao" về khung chính sách thể chế, "rủi ro rất cao" trong động lực cạnh tranh và "rủi ro trung bình" về gây vốn hệ thống.
 
S&P cho rằng các tiêu chuẩn về khung chính sách của Việt Nam còn thiếu các tiêu chuẩn quốc tế và ngân hàng trung ương dễ bị tổn thương trong chính các thỏa thuận của mình. S&P không cho rằng một hệ thống cảnh báo sớm hiệu quả có thể sử dụng như công cụ giám sát ưu tiên. Khung chính sách càng yếu hơn do sự yếu kém trong điều hành và minh bạch. Hầu hết các ngân hàng không công bố báo cáo tài chính kịp thời, và thường không đầy đủ chi tiết.
 
TS. Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chính quốc cảnh báo, rủi ro chéo từ TTCK, bất động sản và chính sách tài khoá đối với chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng là rất lớn. Đặc biệt là các NHTM nhỏ đang làm tích tụ nợ xấu cả trong ngắn hạn và trung hạn.
 
TS. Lê Xuân Nghĩa nêu rõ, điều này là chưa bao giờ xảy ra, hy hữu mới có cái dạng rủi ro như của Việt Nam hiện nay. Tức là sự méo mó khủng khiếp. Lỗi là tại điều hành chứ không phải lỗi tại thị trường, do chúng ta sử dụng quá nhiều biện pháp hành chính, sử dụng mệnh lệnh hành chính.
 
Vấn đề này nếu không được xử lý kịp thời có thể sẽ ảnh hưởng xấu đến an toàn hệ thống ngân hàng và uy tín của Việt Nam. 

TS. Lê Xuân Nghĩa nêu rõ, trong khi quan hệ lãi suất chuẩn tại châu Âu, lãi suất thị trường liên ngân hàng luôn xoay xung quanh lãi suất thị trường mở, thị trường tiền tệ Việt Nam gần đây không theo đúng điều này.

Ta thì lãi suất trung ương một đường, lãi suất liên ngân hàng một nẻo thì làm thế nào mà chỉ dẫn thị trường. Cho nên, đổ lãi suất cao do ngân hàng nhỏ là sai, không có cơ sở.

Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, chỉ có ngân hàng lớn mới nhận được tiền gửi của Kho bạc Nhà nước; mới có trái phiếu Chính phủ để tái chiết khấu tại ngân hàng trung ương; được các tập đoàn mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn lớn với lãi suất thấp; mới có vốn ODA làm dịch vụ giải ngân cho Chính phủ và có cơ hội huy động vốn thấp.

Trái với nhiều cơ hội và ưu thế như kể trên, các ngân hàng “nhỏ” chỉ có thể huy động tiền gửi của dân cộng với tiền gửi của doanh nghiệp cỡ vừa trở xuống. Thế thì đương nhiên họ phải huy động vốn cao lên.

Lý do các ngân hàng “nhỏ” chạy đua lãi suất như hiện nay, cũng theo ông Nghĩa, là vì trên thị trường liên ngân hàng, các ngân hàng lớn cho họ vay với lãi suất có thể đến 25% và không phạm luật. Thế thì dại gì họ không vay của dân 17-18%, mà kỳ hạn là như nhau.

TS. Lê Xuân Nghĩa nêu rõ, khi trần lãi suất huy động là 14%, những lách luật lại dẫn đến một rủi ro khác. Chưa bao giờ trong ngành ngân hàng có hai hệ thống báo cáo kế toán như bây giờ. Một hệ thống lãi suất huy động ghi là 14%, nhưng mà trên thực tế ngân hàng phải trả là 17-18-19%,
 
Chuyên gia tài chính Nguyễn Quang Thuân cho rằng hệ thống ngân hàng  đang đứng trước yêu cầu tái cơ cấu triệt để và mạnh mẽ hơn bao giờ hết và để tái cơ cấu thành công, cần xử lý được ba vấn đề chính là tình hình nợ xấu nổ chậm, tỷ lệ vốn chủ sở hữu thấp và thiếu thanh khoản trong hệ thống ngân hàng.
 
Để thực hiện mục tiêu trên, cần có những điều kiện cơ bản về việc xác định một cách rõ ràng và chính xác nhất có thể mức độ mất vốn của các ngân hàng trong bối cảnh kinh tế hiện nay. Con số này phải được đưa ra từ các cuộc rà soát đặc biệt với nhiều chuyên gia tư vấn trong nước và quốc tế, chứ không phải con số trên sổ sách kế toán do các ngân hàng báo cáo vào công bố.
 
Trong đó, cần xác định rõ chất lượng tài sản, giá trị nợ xấu, nợ dưới chuẩn tại các ngân hàng thương mại và tính toán mức dự phòng rủi ro tín dụng, từ đó đánh giá mức độ đảm bảo của vốn tự có. Kế đó, phải giải quyết nợ xấu và thanh lý các tài sản không nằm trong hoạt động cốt lõi của ngân hàng.
 
Một số ngân hàng có thể sử dụng cơ chế như trái phiếu, đầu tư ủy thác qua hoạt động quỹ đầu tư để hạch toán các khoản tài trợ mang bản chất tín dụng và đầu tư vào cổ phiếu. Do đó, chất lượng tín dụng cần được đánh giá tổng thể hơn, bao gồm cả các khoản đầu tư tài chính và các khoản khác trên bảng cân đối tài sản và các tài khoản ngoại bảng, thay vì chỉ có dư nợ tín dụng.
 
Chuyên gia Nguyễn Quang Thuân nêu rõ, Chính phủ có thể thành lập một ban tái cấu trúc quốc gia về hệ thống ngân hàng. Ban này sẽ yêu cầu các ngân hàng có vấn đề về vốn tự có phải tăng vốn hay sáp nhập; cung cấp bảo lãnh cho các khoản vay liên ngân hàng; lập quỹ tái cấu trúc và đầu tư vào các ngân hàng không tự tăng được vốn; đưa đề xuất lên Chính phủ về việc nới lỏng tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong một số trường hợp đặc biệt và đưa ra khung pháp lý để các ngân hàng có thể mua bán nợ xấu và nợ dưới chuẩn.

Quang Thanh (Tầm nhìn)
Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu