Đi kèm với đầu tư ngoài ngành, cán bộ quản lý của những tập đoàn này sẽ được phân thêm việc làm người đại diện vốn của chủ sở hữu kiêm nhiệm ở những nơi được nhận đầu tư. Họ có cơ hội hưởng thù lao lớn.
Theo ông Đặng Huy Đông, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các tập đoàn kinh tế đều kinh doanh đa ngành trên cơ sở tận dụng phương tiện, tài sản và nhân lực sẵn có từ ngành nghề kinh doanh chính để đầu tư ra ngoài ngành. Ngay cả một số tập đoàn có năng lực tài chính còn hạn chế, thiếu vốn đầu tư vào ngành nghề kinh doanh chính nhưng vẫn "tập trung" đầu tư ra ngoài ngành, đầu tư vào những lĩnh vực mà khu vực kinh tế tư nhân sẵn sàng đầu tư.
Hiện tổng mức đầu tư ra ngoài ngành của 11 tập đoàn là trên 19.500 tỷ đồng, trong đó PVN đầu tư 6.708 tỷ đồng, EVN đầu tư hơn 2.107 tỷ đồng, Tập đoàn Công nghiệp cao su đầu tư 3.848 tỷ đồng… Cũng như nhiều tập đoàn khác, ba tập đoàn này chuộng đầu tư vào lĩnh vực nhạy cảm và đầy rủi ro như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, bất động sản và quỹ đầu tư. Ông Đông nhận định: "Việc các tập đoàn sử dụng uy tín, nguồn lực của Nhà nước để đầu tư vào những ngành, lĩnh vực mà khu vực tư nhân có thể làm được đã làm giảm cơ hội và hạn chế sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Thực tế cho thấy, việc đầu tư ra ngoài ngành không mang lại hiệu quả, thậm chí thua lỗ, gây hệ lụy cho sự phát triển chung của tập đoàn".
Đi kèm với đầu tư ngoài ngành, cán bộ quản lý của những tập đoàn này sẽ được phân thêm việc làm người đại diện vốn của chủ sở hữu kiêm nhiệm ở những nơi được nhận đầu tư. Họ có cơ hội hưởng thù lao lớn. Thu nhập này liệu có được các đại diện vốn nộp về tập đoàn hay hưởng hết. Hay lại tiền Nhà nước, vốn Nhà nước, nhưng thù lao khủng thì cá nhân chiếm hưởng. Điều này lý giải thêm lý do vì sao các tập đoàn thích đầu tư ngoài ngành chính, dù lợi nhuận không cao.
Đơn cử như Chủ tịch hội đồng quản trị EVN là Phó Chủ tịch HĐQT của Ngân hàng An Bình. Theo báo cáo tại đại hội cổ đông thường niên của ngân hàng An Bình vào đầu năm 2011, ngân hàng này đã trả thù lao cho HĐQT với tổng số tiền khoảng 4,6 tỷ đồng. Nếu chia đều số tiền này cho sáu thành viên thì mỗi người được nhận hơn 772 triệu đồng, tương đương mức trên 64 triệu đồng/tháng. Với số tiền đầu tư ngoài ngành tính đến hết 2010 là 5.402 tỷ đồng, thì rất nhiều lãnh đạo tập đoàn (các uỷ viên hội đồng thành viên, các trưởng ban... của EVN) sẽ có cơ hội được làm đại diện phần vốn sở hữu tại các Cty mà EVN góp vốn, thì thu nhập của họ riêng từ nguồn thù lao này là cực kỳ lớn.

Khoản thu nhập từ việc kiêm nhiệm trên có vẻ hơi lạc điệu so với báo cáo từ kiểm toán, EVN làm ăn thua lỗ, đầu tư quá nhiều nhưng hiệu quả quá thấp, lợi nhuận thu về chỉ bằng 1% đồng vốn bỏ ra.
Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Văn Hiếu chỉ ra, tuy quy mô vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, TCty đã tăng gấp đôi, từ 317.647 tỷ đồng (năm 2006) lên 653.166 tỷ đồng năm 2010 nhưng tổng số nợ phải trả của các doanh nghiệp này cũng đã tăng mạnh. Nếu năm 2006, tổng số nợ phải trả của các tập đoàn, TCty là 419.991 tỷ đồng, bình quân bằng 1,32 lần vốn chủ sở hữu thì đến hết năm 2010, tổng số nợ phải trả của các tập đoàn, TCty là 1.088.290 tỷ đồng, bình quân bằng 1,67 lần vốn chủ sở hữu (quy định hiện hành được huy động vốn trong phạm vi nợ phải trả không vượt quá ba lần vốn điều lệ). Trong số này vẫn còn tới 30 tập đoàn, TCty tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn ba lần. Trong đó, có 7 TCty trên 10 lần, 9 TCty trên 5-10 lần, có 14 TCty từ 3-5 lần.
Theo Bộ Tài chính, doanh thu và lợi nhuận của tập đoàn, TCty tăng dần theo từng năm. Nếu doanh thu năm 2007 của các doanh nghiệp này là 642.000 tỷ đồng thì đến 2010 đã tăng lên 1.488.273 tỷ đồng. Lợi nhuận cũng tăng từ 71.491 tỷ đồng (năm 2007) lên 162.910 tỷ đồng năm 2010. Nhưng, hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước nói chung và các tập đoàn, TCty Nhà nước nói riêng còn chưa tương xứng với vị trí, vai trò, tiềm năng của doanh nghiệp.
Đến năm 2010, các tập đoàn, TCty đang bỏ khoảng 21.814 tỷ đồng vào các khoản đầu tư trên các lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản, quỹ đầu tư và ngân hàng, tăng so hơn ba lần so với năm 2006. Trong đó, có 3.576 tỷ đồng vào lĩnh vực chứng khoán; 2.236 tỷ đồng vào bảo hiểm; 5.379 tỷ đồng vào bất động sản; 495 tỷ đồng vào quỹ đầu tư và 10.128 tỷ đồng vào lĩnh vực ngân hàng.
Theo đánh giá của Bộ Tài chính, tỷ lệ đầu tư vốn vào các lĩnh vực ngoài ngành kinh doanh nói trên tuy vẫn trong giới hạn quy định nhưng đã làm phân tán nguồn lực, nhất là vào các lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, bất động sản, chứng khoán vẫn chứa đựng nhiều rủi ro. Đồng thời phần nào làm hạn chế hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thậm chí phát sinh các tiêu cực, gian lận như tại một Cty cho thuê tài chính vừa qua.
Theo ông Phạm Viết Muôn, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Phó Trưởng Ban Thường trực BCĐ đổi mới và phát triển doanh nghiệp, cùng với việc cải cách tiền lương, Chính phủ cũng yêu cầu trước năm 2015, các tập đoàn, TCty Nhà nước sẽ phải thoái vốn tại tất cả các lĩnh vực kinh doanh trái ngành nghề. Động thái này sẽ khiến các doanh nghiệp dừng việc “đứng núi này trông núi nọ”, mang tiền đi đầu tư ngoài ngành trong khi bản thân doanh nghiệp vẫn kêu lỗ dài dài và không có tiền đầu tư phát triển.
Xuân Thanh (PL&XH)