Dự báo năm 2012 lạm phát sẽ giảm về một con số nhưng không có dự báo hay khẳng định về lãi suất cao ngất có giảm? Nguyên nhân gây bất ổn nền kinh tế là vấn đề "lãi suất" không thể giảm?

Giới phân tích nhận định rằng năm 2012 chưa thể giảm lãi suất tiền vay? vì sao vậy?
Các chuyên gia kinh tế phân tích việc lãi suất tiền vay không thể giảm chính là một trong những nguyên nhân gây bất ổn nền kinh tế, có thể thấy từ 2008 đến 2011, tăng trưởng kinh tế Việt Nam luôn gắn liền với bất ổn vĩ mô ở mức độ cao thông qua mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát. KT Việt Nam tăng trưởng đi liền tăng nợ ?
Cụ thể, nếu như giai đoạn 2002 - 2007, tăng trưởng luôn duy trì ở mức trung bình 8%/năm, lạm phát bình quân 6,5%/năm với miền giao động từ 3,1% - 8,3% thì giai đoạn 2008-2011, tăng trưởng chỉ đạt 6% nhưng lạm phát trung bình là 14,4%/năm và biên độ giao động từ 6,9% lên tới 23%. Còn nợ công thì tăng liên tục theo cấp số cộng hàng năm.
Các chuyên gia nhận định, 2012 là năm có rất nhiều “di sản” tồn tại và kế thừa của 4 năm trước đó, sự điều hành kinh tế vĩ mô sẽ đầy bất ổn và thách thức lớn và vấn đề chính gây bất ổn lớn cho nền kinh tế là lãi suất tiền vay.
Mặc dù lạm phát có thể giảm xuống dưới 10% nhưng lãi suất vẫn cao và doanh nghiệp sẽ không thể hoạt động được vì càng hoạt động càng lỗ.
Nhưng hệ thống ngân hàng thì không có điều kiện "sức khỏe để vào cuộc giảm lãi suất tiền vay vì
Thứ nhất là vấn đề căng thẳng thanh khoản. Trong vài hội thảo kinh tế vĩ mô gần đây, hầu hết giới phân tích đều đánh giá rằng, thanh khoản hệ thống ngân hàng đang là vấn đề lớn nhất của nền kinh tế trong năm 2012. Lý do ở đây chính là rủi ro kỳ hạn giữa huy động và cho vay. và yếu tố niềm tin của thị trường liên ngân hàng gần như bị đánh mất.
Thứ hai, lòng tin của người dân chưa phục hồi nên chưa thể giảm ngay lãi suất. Mà niềm tin nơi người gửi tiền, niềm tin ở VND sụt giảm và hơn nữa là dòng tiền nhàn rỗi cũng bị eo hẹp do nguồn thu cá nhân giảm
Thứ ba là vấn đề nợ xấu. Cụ thể hệ thống ngân hàng, chi phí cho các khoản nợ xấu và nhu cầu dự trữ thanh khoản sẽ đẩy khoảng cách giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay ra lên cao. Do đó, trong lúc này, nếu tiếp tục kìm nén lãi suất tiền gửi có thể không phát huy được tác dụng làm giảm lãi suất cho vay”.
Có thể thấy, bài toán hạ lãi suất dù rất thu hút mối quan tâm lớn của toàn xã hội, nhưng trong chiến lược tái cơ cấu hệ thống, Ngân hàng Nhà nước buộc phải hành động theo cách: không cứu thanh khoản theo cái cách như vẫn làm trước đó để được cục diện lớn hơn.
Vấn đề căng thẳng thanh khoản ngân hàng là một trong những vấn đề lớn của hệ thống ngân hàng kể từ 2008 đến nay. Và mỗi khi như vậy, Ngân hàng Nhà nước thường bơm tiền ra để hỗ trợ mà ít quan tâm đến đích cuối cùng của chúng ở đâu. Thế nhưng, kể từ tháng 9/2011 đến nay, dù đã tiên liệu căng thẳng thanh khoản hệ thống ngay từ tháng 6/2011 nhưng Ngân hàng Nhà nước đã không hành xử như trước.
“Vòi nước” tiếp ứng thanh khoản từ Ngân hàng Nhà nước thông qua quy mô giao dịch OMO và lãi suất chủ chốt tiếp tục thắt chặt, bất chấp sự la ó của giới phân tích cũng như tình cảnh cắn răng chịu đựng của các ông chủ nhà băng sau nhiều năm tháng bỏ mặc kỳ hạn cơ cấu tài sản lỏng lẻo và vung tín dụng quá đà.
Chỉ có như vậy, Ngân hàng Nhà nước và chính thị trường sẽ nhận diện rõ hơn những ngân hàng nào thực sự yếu kém và đó là tiền đề cho quá trình tái cơ cấu trong năm 2012. Tất nhiên, cách làm đó của Ngân hàng Nhà nước không phải lúc nào và ở đâu cũng nhận được sự đồng thuận của toàn xã hội.
Đã có khuyến cáo rằng, kể cả khi buộc phải nhìn nhận việc hạ lãi suất trong một tầm nhìn trung và dài hạn, chấp nhận tăng trưởng bị ảnh hưởng, kéo theo là việc làm giảm sút thì từ quý 1/2012 cần phải hay buộc phải thực hiện các việc cụ thể sau.
Một là cần tái cấp vốn trực tiếp từ Ngân hàng Nhà nước nhưng phải giám sát dòng vốn này đi đúng địa chỉ mà mục tiêu chính là giải quyết thanh khoản để hỗ trợ sản xuất.
Hai, nên tăng dự trữ bắt buộc, tạo nguồn cho Ngân hàng Nhà nước điều hòa vốn từ ngân hàng dư thừa sang ngân hàng thiếu vốn.
Ba, mở rộng cơ chế cho phép các ngân hàng kinh doanh vàng tài khoản để sử dụng nguồn vốn từ vàng bổ sung cho thanh khoản của hệ thống.
Bốn là khi có điều kiện thích hợp như kỳ vọng lạm phát giảm mạnh, lạm phát được kiểm soát thì có thể bỏ trần lãi suất huy động và giảm lãi suất tiền vay.
Những vấn đề trên cần phải giải quyết với mục tiêu cuối cùng là phải giảm lãi suất tiền vay vì lãi suất cao là một nguyên nhân chính gây bất ổn nền kinh tế vĩ mô đó cũng là đặc trưng cơ bản của thị trường tài chính doanh nghiệp Việt Nam (có tới 80 đến 90 % vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt là đi vay), Vì vậy nếu lãi suất tiền vay cao thì kinh doanh đình trệ dẫn đến nguồn thu giảm và bất ổn từ đây.
Hoàng Mai (Tầm nhìn)