"Trong hoàn cảnh hiện nay, hệ thống ngân hàng thương mại không huy động được tiền trong dân, doanh nghiệp không tiếp cận được với vốn vì lãi suất quá cao, Ngân hàng Trung ương phải thực hiện vai trò điều tiết để không xảy ra thiểu phát" - Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành.
Mục đích tối thượng của chính sách tiền tệ là tạo việc làm cho dân
PV: - Những con số thống kê liên tục cho thấy doanh nghiệp đang gặp khó khăn đứng trên bờ vực phá sản và Chính phủ đã phải đưa ra gói hỗ trợ cho các doanh nghiệp, mặt khác, chỉ số giá tiêu dùng trong tháng 6 vẫn giảm. Ông phân tích mối liên hệ này ra sao và nó nói lên điều gì vậy?
Ông Bùi Kiến Thành: - Gói hỗ trợ 29.000 tỷ đồng không giải quyết được vấn đề mà cộng đồng doanh nghiệp đang gặp khó khăn, đó là nguồn vốn. Doanh nghiệp đang hấp hối, không họat động, không tiêu thụ được sản phẩm, lấy gì mà đóng thuế doanh nghiệp, ý nghĩa gì việc giãn thuế giá trị gia tăng…
Giống như một người đang chết khát đến nơi rồi mà có người lại bảo, chịu khó chạy thêm 1 – 2 cây số nữa, tới đó sẽ có nước. Vấn đề là, làm sao người đó chạy được đến chỗ có nước?
Doanh nghiệp đang cần tiếp cận nguồn vốn vay với lãi suất hợp lý, điều đó nếu không giải quyết sẽ dẫn đến doanh nghiệp đình đốn, không hoạt động được, sa thải lao động, không tiếp nhận lao động mới. Người lao động không có thu nhập, không có khả năng mua sắm dẫn đến hàng hóa đọng lại.
Một mặt, phía sản xuất khó khăn trong chi phí sản xuất vì lãi suất cao, một bên là tiêu thụ không có sức mua, nên hàng hóa đọng lại. Cứ như thế, doanh nghiệp làm sao sản xuất tiếp được.
PV: - Dân cạn tiền, thất nghiệp gia tăng, các cử nhân cũng không kiếm nổi việc làm. Ai cũng cố xoay đủ nghề để tồn tại với hi vọng cơn bĩ cực này chóng qua, nhưng tương tự như bất động sản, khả năng hồi phục rất khó. Vậy phải giải quyết vấn đề này ra sao, thưa ông?
Ông Bùi Kiến Thành: - Mỗi năm, theo sự phát triển dân số, thị trường lao động tăng thêm 1,5 triệu người: sinh viên ra trường, học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông, thanh niên tới độ tuổi lao động… Chưa kể, số người từ nông thôn ra thành thị làm việc là khoảng 1 triệu lao động.
Quốc hội mới đưa ra mục tiêu tăng trưởng 6%, nghĩa là doanh nghiệp phải phát triển như vậy mới có khả năng cung cấp việc làm cho những lực lượng mới tham gia vào thị trường lao động.
Hiện tăng trưởng chỉ đạt khoảng 4%, nếu tiếp tục tình hình như thế này, đến cuối năm có thể còn xuống thấp hơn, nền kinh tế không tạo thêm được công ăn việc làm chưa kể còn sa thải lao động. Điều này sẽ gây ra những hệ lụy không hề nhỏ.

Cả một thế hệ học sinh, sinh viên ra trường không kiếm được việc làm, thậm chí việc quét dọn, rửa chén cũng đã có người làm rồi.
Người nông thôn ra thành thị không kiếm được việc làm nhưng cũng không thể quay về vì ở quê không còn đất để canh tác (thu hồi đất cho các dự án khu công nghiệp mà với tình hình kinh tế như hiện nay thì khó mà phát triển). Xã hội sẽ đi tới chỗ bất ổn định, từ chỗ mất an sinh xã hội sẽ dẫn tới mất an ninh xã hội.
Chung quy lại là, trách nhiệm tối cao của một nhà nước là tạo công ăn việc làm cho nhân dân và trách nhiệm của chính phủ là tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động để tạo ra công ăn việc làm cho nhân dân.
Và chính sách tiền tệ với mục đích tối thượng của nó cũng là tạo công ăn việc làm cho người dân, qua hệ thống ngân hàng thương mại cung ứng vốn vay cho doanh nghiệp phát triển.
Ngân hàng trung ương phải điều tiết thế nào để cho lượng tiền đủ để ngân hàng thương mại có thể cho doanh nghiệp vay với lãi suất hợp lý. Điều đó chúng ta chưa làm được.
Vậy phải giải quyết như thế nào? Tôi thấy nhiều vị nói phải có chính sách kích cầu, nhưng theo tôi, đó không phải là giải pháp. Chính phủ đang có bao nhiêu tiền mà kích cầu?
Chúng ta đang nói tới câu chuyện hàng triệu người lao động mất việc làm, để tăng mãi lực cần số tiền rất lớn mà không có nhà nước nào kích cầu được.
Giải pháp phải là làm sao cho doanh nghiệp hoạt động trở lại. Khi đó, họ sẽ kêu người lao động trở lại làm việc, người lao động có lương mới có thể tiêu thụ hàng hóa, mới giải quyết được vấn đề đầu ra cho nền kinh tế.
Thật vô duyên khi đi xin, vay ngoại tệ
PV: - Thưa ông, ngay khi bắt đầu có thông tin về gói hỗ trợ 29.000 tỷ đồng bằng chính sách tài khóa, một số người đã “thông cảm” rằng, đó là giải pháp phù hợp với tình hình ngân sách nhà nước. Như vậy, Ngân hàng Trung ương làm sao có thể cung ứng vốn vay cho ngân hàng thương mại để hệ thống này cho doanh nghiệp với lãi suất hợp lý như đề xuất của ông?
Ông Bùi Kiến Thành: - Ngân hàng Trung ương có nguồn tiền vô hạn định. Ngân hàng trung ương hãy cho ngân hàng thương mại vay tiền với lãi suất thấp, không phải chờ đợi ngân hàng thương mại đi huy động vốn trong nhân dân. Ví dụ, cho ngân hàng thương mại vay với lãi suất 3-4%, chỉ định cho ngân hàng thương mại cho doanh nghiệp vay với lãi suất 7-8%.
Chính phủ có thể ra những quy định như buộc ngân hàng thương mại cam kết chỉ cho vay vào sản xuất kinh doanh, cho vay theo dự án, giải ngân theo tiến độ. Ngân hàng thương mại phải giám định từng hợp đồng cho vay, từng dự án phát triển để làm sao đảm bảo tiền được đổ vào những dự án khả thi.
Như vậy mới kiểm soát được luồng tiền và mục đích của luồng tiền, đảm bảo để bất kỳ doanh nghiệp nào trên đất nước này, có dự án khả thi thì đều có thể tiếp cận được vốn với lãi suất hợp lý.
Nhưng có nhiều người lại hỏi, Chính phủ còn đi vay, Ngân hàng Trung ương lấy đâu tiền cho vay? Nói thế là không hiểu vai trò của ngân hàng trung ương. Ngân hàng trung ương có vai trò điều tiết lưu lượng tiền tệ cho nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững.
Ngân hàng Trung ương là định chế phát hành tiền vô hạn định, miễn là phải điều tiết làm sao cho đừng có nhiều quá, để xảy ra lạm phát, mà đừng có ít quá để xảy ra thiểu phát.
Trong hoàn cảnh hiện nay, hệ thống ngân hàng thương mại không huy động được tiền trong dân, doanh nghiệp không tiếp cận được với vốn vì lãi suất quá cao, Ngân hàng Trung ương phải thực hiện vai trò điều tiết để không xảy ra thiểu phát.
PV: - Nếu làm theo cách như vậy có gây ra lạm phát, khi tiền in ra mà không có sản phẩm đối ứng?
Ông Bùi Kiến Thành: - Chuyện này không liên quan tới vấn đề sản phẩm, hiện nền kinh tế đang đối diện với vấn đề cung ứng đầy đủ lưu lượng tiền tệ để cho nền kinh tế hoạt động ổn định và bền vững.
Ví dụ chúng ta có 30% GDP đầu tư cho nền kinh tế, mà nhu cầu cần đầu tư là 40%. Phải tìm ở đâu 10% còn thiếu. Cách của chúng ta xưa nay là trải thảm đỏ, vay ODA của nước ngoài. Rồi từ tiền nước ngoài đổi sang tiền Việt Nam để đầu tư cho nền kinh tế. Đó là một chuyện hết sức phi lý.
Chúng ta có chủ quyền quốc gia, có chủ quyền về tiền tệ, có thể phát hành tiền tệ, tín dụng và nhiệm vụ đó được giao cho Ngân hàng Trung ương. 10% cần cho sự phát triển đó phải được ngân hàng trung ương cung ứng đầy đủ.
Thật vô duyên khi chúng ta có quyền phát hành tiền Việt Nam mà phải đi vay. Chúng ta chỉ đi xin hay vay ngoại tệ khi cần phải đầu tư vào những mục tiêu không thể dùng tiền Việt.
Vì chúng ta không thực sự quán triệt vai trò chủ quyền tiền tệ, do Ngân hàng Trung ương nắm giữ, còn Ngân hàng Trung ương giờ đang kẹt trong thế là ngân hàng nhà nước, phải tiêu tiền trong ngân sách nên mới xảy ra hiện tượng phi lý như trên.
Hoàng Hạnh (Thực hiện)
Phunutoday