GS-TSKH Lê Huy Bá cho biết, việc thuốc trừ sâu chôn đựng trong thùng phuy và chai lọ chôn dưới đất rất nguy hiểm. Việc chôn lâu ngày, các thùng phuy bị ăn mòn sẽ làm thuốc trừ sâu rò rỉ ra. Nhiễm độc thuốc trừ sâu có thể gây nguy hiểm lâu dài, nhiều thế hệ.

GS-TSKH Lê Huy Bá - nguyên Viện trưởng Viện Khoa học công nghệ và quản lý môi trường
Ông Bá cho biết, có nhiều nơi đã bị như Đắc Lắc, Bình Dương,... đặc biệt là vùng Yên Thành (Nghệ An) từng chôn thuốc trừ sâu. Khi bục ra, thuốc rò rỉ ra bên ngoài khiến nhiều người bị bệnh ung thư. Sau khi điều tra mới biết, nguyên nhân là do ngày xưa có kho thuốc trừ sâu chôn ở đây.
GS khẳng định: “Rò rỉ gây nhiễm độc nguồn nước dưới đất, ảnh hưởng nguy hiểm đến thủy sinh và lan truyền theo mạch nước ngầm vào nguồn nước cấp sinh hoạt cho dân cư cả vùng rộng lớn. Nhiễm độc thuốc trừ sâu- nhất là những kho thuốc không xử lý tiêu hủy đúng cách- có thể gây nguy hiểm lâu dài, nhiều thế hệ. Chỉ có thể thiêu hủy thuốc trừ sâu hoặc xử lý bằng công nghệ xử lý chất thải nguy hại mới được”.
Thuốc trừ sâu là loại thuốc được xếp vào mức độ nguy hiểm cao nhất (cấp 4 trong các cấp từ 1 đến 4), được xếp vào loại hóa chat độc.
Nói thêm về hiện tượng này, GS-TSKH Lê Huy Bá cho rằng: “Hiện nay, nhiều tỉnh, thành đang có những kho thuốc hàng tấn, tịch thu thuốc dạng trôi nổi, không rõ nguồn gốc, những loại thuốc quá hạn sử dụng, những loại thuốc mà thế giới cấm sử dụng (như DDT, 666, methyl… cần phải kiểm kê và tìm cách tiêu hủy đúng phương pháp “tiêu hủy chất độ nguy hại”, không nên để lâu quá.
Nhưng các chi cục bảo vệ thực vật hay một số công ty lại “xử lý chất thải độc hại theo kiểu chôn xuống đất như báo chí đề cập, đó thật sự là một việc làm sai trái, cần đưa lên xử lý ngay theo đúng quy trình xử lý chất thải nguy hại chứ không thể chôn tùy tiện như vậy. Việc chôn thuốc như báo chí phản ánh là rất nguy hiểm, nguy hiểm tới đất, nước, không khí, hệ sinh thái trong vùng và gây độc cho tất cả các sinh vật chứ không riêng gì con người”.
Vụ chôn thuốc trừ sâu: “Tác hại khủng khiếp đến môi trường!”
Về vụ việc liên quan đến thuốc bảo vệ thực vật vừa qua tại Thanh Hóa, PV Lao Động đã có cuộc trao đổi ngắn với ông Nguyễn Xuân Hồng - Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NNPTNT) để nắm rõ hơn về quy trình sử dụng và quản lý các loại hóa chất độc hại này.
Chiều 1.9, ông Hồng cho biết: Hiện tại các cơ quan chức năng về môi trường và chi cục Bảo vệ thực vật (BVTV) Thanh Hóa đã tổ chức đoàn thanh tra vào địa bàn Cẩm Thủy để xử lý, tạm thời ngừng hoạt động của cty để điều tra làm rõ sự việc. Trong tuần tới sẽ có báo cáo lên Cục BVTV để tiếp tục có phương án xử lý.
Việc chôn thuốc BVTV gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường là việc làm hoàn toàn sai với quy trình mà mỗi một DN sản xuất thuốc BVTV đều phải nắm rõ và tuân thủ.
Thông thường, việc xử lý các hóa chất BVTV hết hạn sử dụng phải đảm bảo quy trình như thế nào, thưa ông?
Các đơn vị đăng ký sản xuất thuốc BVTV khi đăng ký kinh doanh đều phải thực hiện nghiêm các quy định về xử lý chất thải độc hại theo pháp luật về bảo vệ môi trường.
Mỗi DN sản xuất thuốc BVTV đều không được tùy tiện tiêu hủy thuốc hết hạn sử dụng, kể cả các bao gói đã qua sử dụng. Họ phải có các kho lưu chứa thuốc BVTV tồn dư hết khả năng sử dụng và ký hợp đồng với các đơn vị tiêu hủy (do Bộ TNMT cấp giấy phép).
Cả nước có trên 20 DN đủ điều kiện tiêu hủy thuốc BVTV độc hại, hết hạn sử dụng. Biện pháp là tiêu hủy trong lò xi măng trên 1500 độ C và chi phí tiêu hủy rất đắt do tính đặc thù của các hóa chất độc hại này.
Thực tế, đã có một số trường hợp vi phạm quy trình tiêu hủy thuốc BVTV, song đa phần các DN khi sản xuất loại thuốc này đều tuân thủy quy trình trên.
Với các loại thuốc BVTV thải ra môi trường thì phải tuân thủ các quy trình nghiêm ngặt để xử lý như gom các thuốc, nước thải lẫn thuốc, sau đó dùng hóa chất để trung hòa để đảm bảo nước thải ra môi trường ko còn chất độc hại nữa.
Theo ông, mức độ độc hại của thuốc BVTV khi bị phát tán ra môi trường như thế nào?
Tất cả các loại thuốc BVTV được phép sử dụng ở VN đều rất độc hại nếu không được xử lý đúng quy trình. Nếu bị phát tán ra môi trường, đặc biệt khi bị chôn dưới lòng đất sẽ dễ dàng ngấm vào nguồn nước hoặc dễ dàng phát tán trong không khí gây ô nhiễm không khí.
Khi trực tiếp tiếp xúc với da sẽ gây kích ứng da, gây dị ứng hoặc các bệnh lý về da liễu rất phức tạp. Nhưng trên hết vẫn là sự nguy hiểm về ô nhiễm nguồn nước bởi khi đã ngấm vào nguồn nước thì rất khó xử lý và gây tác hại khủng khiếp, khôn lường đến sức khỏe người dân về lâu dài.
Cả nước hiện có bao nhiêu đơn vị sản xuất, kinh doanh thuốc BVTV và việc quản lý các đơn vị này như thế nào, thưa ông?
Cả nước hiện có 93 cty sản xuất, sang chai, bao gói thuốc BVTV. Còn đơn vị kinh doanh thì rất nhiều, khoảng hơn 28.000 cơ sở các loại, tuy nhiên các sản phẩm khi kinh doanh đều đã được đóng gói, đóng chai thành phẩm nên vẫn đạt mức độ an toàn nhất định. Cái khó là quản lý các đơn vị sản xuất.
Bộ NNPTNT đã có thông tư 14 về thực hiện phân loại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuốc BVTV theo các mức A, B, C. Các cơ sở phân loại C đều ở mức "báo động" với tần suất kiểm tra được tăng cường, nếu khi phát hiện vi phạm thì sẽ ngay lập tức rất giấy phép kinh doanh theo quy định.
Xin cảm ơn ông!